- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? C n cứ điểm a hoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự n m 2015; Nghị qu ết 326/2016/U TVQH14 ngà 30/12/2016 của
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự
| C c | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2019/HS-PT Ngày: 24-01-2019 |
NHÂN DANH
ƯỚC C NG HÒA XÃ H I CH
V T NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T
NG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Nước
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng
Ông Đinh Chí Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngu ễn V n Tr i – Thư T a n nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Lưu Thú Ái- Kiểm sát viên.
Ngày 24 th ng 01 n m 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử công khai vụ án hình sự phúc th m thụ lý số: 275/2018/TLPT-HS ngày 27 tháng 12 n m 2018 đối với c c ị cáo T (TE).
Do có h ng c o của ị c o đối với ản n hình sự sơ th m số 77/2018/HSST ngày 15 tháng 11 n m 2018 của Tòa án nhân dân thành phố C.
- Bị cáo có kháng cáo:
T (TE), sinh n m 1988, tại Đồng Th p; Nơi cư trú: Tổ A, khóm B, phường C, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: T1, sinh n m 1955 và bà L, sinh n m 1959; Có 03 anh em, bị c o là con út trong gia đình; Vợ: L1, sinh n m 1991, Con: Có 02 con, lớn sinh n m 2010, nhỏ sinh n m 2012; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 14/3/2018, bị Công an phường 2, thành phố C ra Quyết định số 17/QĐ/XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “ Đ nh ạc tr i phép”, đ nộp xong ngày 19/3/2018. Tạm giữ: 16/6/2018; Tạm giam: Ngày 25/6/2018. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp. Có mặt;
Ngoài ra Viện kiểm sát không kháng nghị.
V
:
Th o c c tài liệu có trong hồ sơ vụ n và diễn iến tại phiên t a, nội dung vụ n được tóm t t như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 16/6/2018, L3, sinh n m 1999, ngụ tổ A, khóm B, phường C và bạn là K (CL), sinh n m 2000, ngụ ấp A, xã T, thành phố C đang uống cà phê thì L3 rủ K hùn tiền mua ma túy sử dụng, L3 mượn điện thoại của K có sim số 01633.XXXXXX điện thoại vào sim số 0907XXXXXX của T để hỏi mua ma túy, nhưng T đang ngủ trưa nên hông ngh m . Đến 13 giờ 17 phút cùng ngày, L3 tiếp tục điện thoại lại thì T nghe máy, L3 nói “Làm cho m c i hai và c i a” (tức L3 hỏi T mua ma tú tép 200.000 đồng và 01 tép 300.000 đồng), T trả “Hết rồi, để điện thoại cho con nhỏ bạn có không, tối điện thoại lại cho”, T điện thoại cho một người ngoài xã hội tên T2 ( hông rõ tên, địa chỉ cụ thể) hỏi mua “01 gốc 8 ma tú ” gi 800.000 đồng và hẹn giao dịch mua bán tại hẻm vườn trúc gần Bệnh viện đa hoa Đồng Tháp. Sau khi liên lạc hỏi mua được ma túy, T điện thoại lại cho L3 biết và hai bên hẹn giao dịch mua bán tại khu vực đường Ông Thợ giao nhau với Quốc lộ 30.
Sau đó T để 800.000 đồng vào gói thuốc và chu n bị 01 cây kéo, rồi một mình chạy xe mô tô Sirius màu xám biển số 66P1-XXXXX của mình đến điểm hẹn với T2 đợi 30 phút, thì có một người thanh niên đ o ính đ n, ịt kh u trang (không biết tên, địa chỉ) chạ x Wav màu xanh đến ném gói thuốc “555” xuống đường, T đến ném gói thuốc chứa tiền xuống thì người thanh niên nhặt lên rồi chạ x đi, T cũng nhặt gói thuốc “555” vào qu n sữa đậu nành gần đó mở gói thuốc ra bên trong có 01 bịch nylon túi kẹp chứa ma túy, T lấy kéo c t bao nylon gói thuốc “555” chiết ra 02 tép ma túy nhỏ để giao cho L3. T chạ x đến khoảng nửa đoạn đường Ông Thợ gặp L3 với K nên ngo c ta để K chở L3 chạy theo T đến Bệnh viện T thuộc Tổ A, ấp B, xã M, thành phố C, tất cả dừng xe lại, T giao 02 tép ma túy cho L3, thì L3 lấy 01 tép giấu vào túi quần trước bên trái của mình và trả lại cho T 01 tép, vì L3 và K chỉ hùn tiền được 300.000 đồng, L3 bỏ 300.000 đồng (gồm 02 tờ 100.000 đồng, 01 tờ 50.000 đồng, 02 tờ 20.000 đồng, 01 tờ 10.000 đồng) vào rổ bửng xe của T. Lúc 14 giờ 35 phút, hai bên vừa giao dịch xong thì bị Công an xã M kết hợp với Cơ quan điều tra Công an thành phố C kiểm tra phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang.
Khi b t quả tang, Cơ quan Công an đ iểm tra khu vực lề đường dưới chân T phát hiện 01 bịch nylon màu tr ng hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu tr ng (niêm phong trong phong bì ký hiệu A1), kiểm tra trên người L3 phát hiện thu giữ 01 bịch nylon màu tr ng hàn kín, chứa tinh thể r n màu tr ng, bên ngoài quấn miếng giấy màu xanh và ng o đ n (niêm phong trong phong ì hiệu A2). Kiểm tra trên người T phát hiện thu giữ trong túi quần trước bên phải 01 điện thoại No ia màu đỏ-đ n có sim số 0907XXXXXX, trong túi quần trước bên trái có 01 cây kéo bằng kim loại màu tr ng.
Kiểm tra rổ bửng xe Sirius màu xám biển số 66P1-XXXXX của T phát hiện thu giữ 300.000 đồng, 01 gói thuốc l “555” ên trong có 01 ịch nylon túi kẹp màu tr ng chứa tinh thể r n màu tr ng (niêm phong trong phong bì ký hiệu A3), đồng thời thu giữ 01 xe mô tô Sirius màu xám biển số 66P1-XXXXX của T đứng tên chủ sở hữu.
Tại kết luận gi m định số 412/KL-KTHS ngày 18/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh đồng Tháp, kế luận: Tinh thể r n chứa trong 01 bịch nylon hàn kín, niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 gởi đến gi m định là chất ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,0693 gam tinh thể r n chứa trong 01 bịch nylon hàn kín bên ngoài quấn miếng giấ màu xanh và ng o đ n, niêm phong trong phong ì ký hiệu A2 gởi đến gi m định là chất ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,0261 gam, tinh thể r n chứa trong 01 bịch nylon túi kẹp đựng trong gói thuốc l “555”, niêm phong trong phong bì A3 gởi đến gi m định là chất ma túy Methamphetamine, khối lượng 1,4815 gam tinh thể r n còn lại sau gi m định trong phong bì ký hiệu A1 0,0593 gam, trong phong bì ký hiệu A2 đ sử dụng hết cho công t c gi m định trong phong bì ký hiệu A3 1,4269 gam, tất cả được niêm phong ghi kết luận gi m định số 412/1, 412/2, 412/3 ngà 18/6/2018 đóng dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, hoàn trả lại cho Cơ quan điều tra Công an thành phố C.
Ngoài ra vào khoảng 23 giờ 50 phút ngày 13/6/2018, L3 và K rủ nhau hùn tiền mua ma túy sử dụng, L3 mượn điện thoại của K gọi cho T hỏi mua 200.000 đồng ma túy, T đồng ý và hai bên hẹn giao dịch mua n trên đoạn đường Quốc lộ 30 gần ngã ba giao nhau với đường Bình Trị, thuộc ấp B, xã M, thành phố C, T 01 mình chạy xe Sirius của mình đến điểm gặp nhau, L3 đưa 200.000 đồng, T nhận tiền và giao cho L3 01 gói thuốc l ên trong có tép ma tú đ m về nhà cùng K sử dụng.
Kiểm tra tình trạng nghiện của T, L3, K dương tính với ma túy M thamph tamin (ma tú đ ).
Trong qu trình điều tra cũng như tại phiên t a sơ th m, bị c o đ hai nhận toàn bộ hành vi đ thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tú ”
Tại bản án hình sự sơ th m số: 77/2018/HSST ngày 15/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố C đ xử:
Tuyên bố: Bị cáo T (TE) phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo T 07 (bảy) n m tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2018.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về l v t ch ng, án ph và qu ền kháng cáo theo lu t định.
Ngày 19 th ng 11 n m 2018, các bị cáo T có đơn h ng c o với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu: Bị c o đ 02 lần mua bán ma túy, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, Tòa án cấp sơ th m đ x m xét đầ đủ các tình tiết giảm nhẹ, giai đoạn phúc th m bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới để Hội đồng xét xử tiếp tục xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo T, giữ nguyên bản án hình sự sơ th m.
C n cứ vào các chứng cứ, tài liệu đ được th m tra tại phiên tòa phúc th m; c n cứ vào kết quả tranh luận tại phiên t a, trên cơ sở x m xét đầ đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai bị cáo.
C
:
Trên cơ sở nội dung vụ n, c n cứ vào c c tài liệu trong hồ sơ vụ n đ được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo T đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đ tru tố. Bị cáo T bản thân là con nghiện, muốn có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng cho bản thân nên bị c o đ n ma tú cho con nghiện L3 tổng cộng 02 lần, thu số tiền 500.000 đồng. Hành vi của bị cáo T đ phạm vào tội “Mua n tr i phép chất ma tú ” th o qu định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại điểm hoản 2 điều 251 ộ luật hình sự qu định:
Ng i nào mua án trái ph p chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2/ Phạm tội thuộc một trong các tr ng hợp sau đâ , thì ị phạt tù từ 07 năm đến 5 năm.
a ….
b/ Phạm tội 02 lần trở lên.
- Về tình tiết t ng nặng: Bị cáo không có tình tiết t ng nặng
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo khai báo thành kh n, tỏ ra n n n hối cải, tự nguyện hai ra trước đó mua n 01 lần là tình tiết giảm nhẹ được qu định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[2] Xét êu cầu h ng c o của ị c o xin được giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấ . T a n cấp sơ th m đ xét xử ị c o về tội “Mua bán trái ph p chất ma túy” là đúng người, đúng tội và đúng ph p luật. Mức hình phạt mà n sơ th m đ tu ên là phù hợp với tính chất, mức độ ngu hiểm của hành vi phạm tội do ị c o gâ ra và đ cân nh c, x m xét nhân thân và c c tình tiết giảm nhẹ cho ị c o. ị c o h ng c o xin giảm hình phạt, tại phiên t a ị c o không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới, do đó Hội đồng xét xử hông chấp nhận êu cầu xin giảm nhẹ một phần hình phạt của ị c o.
[3] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp nên chấp nhận.
[4] Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo hông được chấp nhận, nên bị c o chịu án phí hình sự phúc th m.
Các phần còn lại của Bản n sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị đ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Q YẾ
:
C n cứ điểm a hoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự n m 2015; Nghị qu ết 326/2016/U TVQH14 ngà 30/12/2016 của
an Thường vụ Quốc hội qu định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng n phí và lệ phí T a n.
Không chấp nhận h ng c o xin giảm nhẹ hình phạt của ị c o T (TE). Giữ nguyên Quyết định của bản án hình sự sơ th m về hình phạt.
Tuyên bố: Bị cáo T (TE) phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử ph t: Bị cáo T 07 n m tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2018.
ị c o hông nghề nghiệp, hông có tài sản riêng nên hông p dụng hoản 5 Điều 251 ộ luật hình sự để phạt ổ sung đối với ị c o.
C c phần h c của qu ết định ản n sơ th m hông có h ng c o, h ng nghị có hiệu lực ể từ ngà hết thời hạn h ng c o, h ng nghị.
Về n phí phúc th m: ị c o T phải nộp 200.000 đồng n phí hình sự phúc th m.
ản n phúc th m có hiệu lực ph p luật ể từ ngà tu ên n.
N i nh n:
T M.
C
M
- VKSND Tỉnh;
t
| - an Nội chính Tỉnh ủ ; - Sở Tư ph p Tỉnh; - TAND – VKSND thành phố C; - Chi cục thi hành n thành phố C; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố C; - Trại Tạm giam Công an Tỉnh; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA TA Tỉnh; - Bị cáo; - Lưu: VT, hồ sơ vụ n (Tr i). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Hồng ước |