- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Thiện P và đồng phạm "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Bé T.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2019/HS-PT Ngày: 14/02/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Chấn.
Các Thẩm phán:
1. Ông Hoàng Ngọc Linh.
2. Bà Phạm Thị Minh Châu.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Tuấn Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông: Nguyễn Thành Năng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 211/2018/TLPT-HS ngày 25/12/2018 đối với các bị cáo Đào Thiện P và Nguyễn Thị Bé T. Do có kháng cáo của các bị cáo Đào Thiện P, Nguyễn Thị Bé T đối với Bản án số 28/2018/HSST ngày 22/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang.
Các bị cáo kháng cáo:
1. Đào Thiện P, sinh năm 1985; N i c trú: ấp P.T 2, xã K.A, huyện C.M, tỉnh A.G; Ngh nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Cha: Đào Văn Q (chết); Mẹ: D ng Thị Thúy L, sinh năm 1957; Vợ: Nguyễn Thị Bé T, sinh năm 1995. (là bị cáo trong vụ án)
- Ti n án: Không
- Ti n sự: Ngày 15/11/2017, bị Ủy ban nhân dân xã K.A, huyện CM, tỉnh An Giang, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng, v hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 15/02/2018.
- Bị tạm giam từ ngày 11/7/2018 đến nay.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Thị Bé T, sinh năm 1995; N i c trú: ấp P.T 2, xã K.A, huyện CM, tỉnh An Giang; Ngh nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Trình độ học vấn: Lớp 4/12; Cha ruột: Trần Văn G, sinh năm 1957 (đã ly hôn); Cha d ợng: Nguyễn Văn H, sinh năm 1967; Mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1964; Chồng: Đào Thiện P, sinh năm 1985. (là bị cáo trong vụ án).
- Ti n án, ti n sự: Không.
- Bị tạm giam từ ngày 11/7/2018 đến nay.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Khoảng 10 giờ ngày 11/7/2018, C quan cảnh sát đi u tra - Công an huyện CM, tỉnh An Giang, bắt quả tang Đào Thiện P và Nguyễn Thị Bé T (vợ của P) tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà của D ng Thị Thúy L (mẹ của P) thuộc ấp P.T 2, xã K.A, huyện CM, tỉnh An Giang, mục đích để mua bán nhằm thu lợi. Thu giữ 03 bọc ma túy trên gi ờng ngủ của P và T, 01 bọc ma túy trong túi áo khoác Jeans màu xanh của T và các vật chứng có liên quan.
* Căn cứ Kết luận giám định số 377 ngày 05/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang: Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamin, có khối l ợng 0,0241 gam.
* Căn cứ Kết luận giám định số 397 ngày 17/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang: Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamin, có khối l ợng 0,0132 gam.
* Căn cứ Kết luận giám định số 398 ngày 17/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang: Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamin, có khối l ợng 2,4985 gam; Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamin, có khối l ợng 0,1345 gam; Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamin, có khối l ợng 4,7376 gam.
Ngoài ra, Đào Thiện P còn khai nhận: Ngoài việc kêu T giao ma túy thì P còn nhi u lần giao ma túy cho La Ve, Xuyến và nhi u ng ời khác không biết tên, địa chỉ. Trong thời gian mua bán ma túy, P h ởng lợi 1.520.000 đồng. (Một triệu năm trăm hai m i nghìn đồng).
Số l ợng ma túy của P và T bị bắt thu giữ là 7,3706 gam, loại Methamphetamine.
Tại Bản án hình sự s thẩm số 28/2018/HSST ngày 22/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Đào Thiện P và Nguyễn Thị Bé T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ các điểm b,c,i khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật H nh s năm 2 15, đ đ c s a đổi, bổ sung năm 2 17.
Xử phạt: Bị cáo Đào Thiện P 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2018.
Căn cứ các điểm b,c,i khoản 2 Điều 251; các điểm r,s,t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật H nh s năm 2 15, đ đ c s a đổi, bổ sung năm 2 17.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bé T 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2018.
Buộc các bị cáo Đào Thiện P và Nguyễn Thị Bé T giao nộp 1.520.000 đồng (Một triệu năm trăm hai m i nghìn đồng) sung ngân sách Nhà n ớc.
Ngoài ra, án s thẩm còn tuyên v phần xử lý vật chứng, án phí và quy n kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử s thẩm, ngày 23/11/2018 các bị cáo Đào Thiện P và Nguyễn Thị Bé T làm đ n kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin đ ợc giảm nhẹ hình phạt với lý do: Hoàn cảnh gia đình khó khăn; cha mẹ lớn tuổi không ai chăm sóc; đã tác động gia đình giao nộp ti n thu lợi bất chính.
Kiểm sát viên thực hành quy n công tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, tranh luận, xem xét tính chất, mức độ, hành vi, vai trò phạm tội của các bị cáo; xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu kháng cáo. Đ nghị Hội đồng xét xử, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đào Thiện P; Chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Bé T, áp dụng điểm b khoản 1 Đi u 355; điểm c khoản 1 Đi u 357.của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Sửa bản án s thẩm v hình phạt, có thể xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bé T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đ ợc xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
Các bị cáo Đào Thiện P, Nguyễn Thị Bé T làm đ n kháng cáo trong thời hạn luật định, nên đ ợc Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục P thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội nh nội dung án s thẩm. Bị cáo P khai nhận, tháng 11/2016 P bắt đầu nghiện ma túy đá, đến cuối năm 2017 bị cáo bắt đầu mua ma túy của Hoa Thái Bình để sử dụng và bán lại cho nhi u ng ời nghiện khác. Bị cáo T biết việc P mua bán ma túy, P kêu T giao ma túy nhi u lần, nhi u ng ời cho đến khi bị bắt quả tang.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa P thẩm hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn đi u tra và tại phiên tòa s thẩm. Kết quả giám định và các chứng cứ khác có trong hồ s vụ án. Do đó, cấp s thẩm đã tuyên xử bị cáo Đào Thiện P và Nguyễn Thị Bé T v tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c, i khoản 2 Đi u 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đ ợc sửa đổi, bổ sung năm 2017, là có căn cứ, đúng ng ời, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo thì thấy:
Các bị cáo là ng ời đã tr ởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức đ ợc hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và hoàn toàn biết đ ợc tác hại của ma túy gây ra cho con ng ời, nó làm băng hoại sức sống của con ng ời, gây tổn hại sức khỏe, sức lao động, ảnh h ởng đến sự phát triển của xã hội và là một trong những nguyên nhân phát sinh nhi u loại tội phạm khác. Lẽ ra, các bị cáo phải biết cố gắng lao động, rèn luyện, phẩm chất đạo đức để trở thành ng ời công dân tốt, có ích cho xã hội. Nh ng các bị cáo không làm đ ợc đi u đó, chỉ vì muốn có ma túy để sử dụng và h ởng lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy, nên các bị cáo đã bán ma túy nhi u lần cho nhi u ng ời, bất chấp pháp luật, hậu quả xảy ra và cố ý thực hiện. Xét thấy, án s thẩm đã xem xét đánh giá đúng đắn tính chất, mức độ hành vi vai trò phạm tội của từng bị cáo và tuyên phạt các bị cáo Đào Thiện P 08 năm tù; bị cáo Nguyễn Thị Bé T 07 năm tù là thỏa đáng.
Lẽ ra, cần giữ nguyên mức hình phạt nh bản án s thẩm tuyên phạt. Tuy nhiên xét thấy tại phiên tòa cũng nh trong quá trình đi u tra, bị cáo T đã thành khẩn khai báo; tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; tự khai những lần phạm tội tr ớc đó. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cuộc sống bất hạnh cha mẹ đã ly hôn khi tuổi còn trẻ; tích cực hợp tác với c quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm; là phụ nữ; học lực thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; không đ ợc h ởng lợi; sống cuộc sống vợ chồng bị lệ thuộc vào bị cáo P trong cùng vụ án; đã tác động gia đình nộp xong số ti n thu lợi bất chính 1.520.000 đồng (Một triệu năm trăm hai m i nghìn đồng) và 200.000 đồng ti n án phí hình sự s thẩm, theo quyết định của bán án s thẩm đã tuyên, (biên lai thu ti n số 003969 ngày 18/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM, tỉnh An Giang), đi u này chứng tỏ cho ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo. Đối với bị cáo Đào Thiện P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nh ng không đ a ra tình tiết giảm nhẹ nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà án s thẩm đã xem xét, để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có cân nhắc, xem xét để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo T; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo P và có thể giảm nhẹ cho bị cáo T một phần hình phạt nh Viện kiểm sát đ nghị cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo.
V án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo P không đ ợc chấp nhận, nên bị cáo P phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự s thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
V các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Đi u 355 điểm c khoản 1 Đi u 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Bé T.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đào Thiện P.
Sửa bản án hình sự s thẩm số 28/2018/HSST ngày 22/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang, v hình phạt.
Căn cứ các điểm b,c,i khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật H nh s năm 2 15, đ đ c s a đổi, bổ sung năm 2 17.
Xử phạt: Bị cáo Đào Thiện P 08 (Tám) năm tù, v tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2018 .
Căn cứ các điểm b,c,i khoản 2 Điều 251; các điểm r,s,t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật H nh s năm 2 15, đ đ c s a đổi, bổ sung năm 2 17.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bé T 05 (Năm) 06 (Sáu) tháng tù, v tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2018.
Buộc các bị cáo Đào Thiện P và Nguyễn Thị Bé T giao nộp 1.520.000 đồng (Một triệu năm trăm hai chục nghìn đồng) sung vào ngân sách Nhà n ớc. Bị cáo đã giao nộp xong, theo Biên lai thu ti n số 003969 ngày 18/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM, tỉnh An Giang.
Bị cáo Nguyễn Thị Bé T không phải chịu án phí hình sự P thẩm. Bị cáo Đào Thiện P phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự P thẩm.
Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự s thẩm số 28/2018/HSST ngày 22/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án P thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (1); - VKSND tỉnh An Giang (2); - TAND H. CM (2); - Chi cục THADS H. CM (1); - Bị cáo (1); - Phòng KTNV và THA (1); - Tòa hình sự (1); - PV 27 (1); - Sở T pháp (1); - Văn phòng (2); - L u. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ P THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Văn Chấn |