vanban.org

Bản án 32/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Cho chị Võ Thị Kim D được ly hôn với anh Phạm Duy H.

Về con chung: Giao cho chị Võ Thị Kim D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là cháu Phạm Duy L – Sinh ngày 01/5/2008 và cháu Phạm Minh H1 – Sinh ngày 10/7/2012. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị D không yêu cầu. Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối con chung, không ai đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Xử: Cho chị Võ Thị Kim D được ly hôn với anh Phạm Duy H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2019/HNGĐ- ST
Ngày: 26-8-2019
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Huy Trụ

2. Bà Trần Thúy Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hoàng Diệp- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Đoàn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 256/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 458/2019/QĐXX-ST ngày 05 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 621/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Kim D - Sinh năm 1981

ĐKHKTT tại: số nhà 11, tổ 58D, khu 6C, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Chỗ ở hiện nay: Khu 3, phường C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

(có mặt)

2. Bị đơn: Anh Phạm Duy H - Sinh năm 1981

ĐKHKTT tại: số nhà 11, tổ 58D, khu 6C, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

(vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 5 năm 2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị Kim D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Kim D và anh Phạm Duy H đăng ký kết hôn ngày 25/9/2007 tại UBND phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn hai bên được tìm hiểu tự nguyện không ai bị ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng với gia đình anh H tại số nhà 11, tổ 58D, khu 6C, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do anh H không có trách nhiệm với vợ con, thường xuyên tụ tập chơi bời. Chị D và 02 con chung đã chuyển ra khỏi nhà anh H từ lâu và từ đó cho đến nay giữa chị D và anh H không còn quan tâm gì với nhau nữa. Nay chị D xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Duy H.

Về con chung: Chị D trình bày vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Duy L – Sinh ngày 01/5/2008 và cháu Phạm Minh H1 – Sinh ngày 10/7/2012. Hiện nay hai cháu đang ở cùng chị dung. Nếu ly hôn, chị D xin được trực tiếp nuôi cả 02 con chung và không đề nghị anh H đóng góp nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị D xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn là anh Phạm Duy H vắng mặt: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H vắng mặt không có lý do. Ngày 05/6/2019, Tòa án đã lập biên bản làm việc tại gia đình anh H có sự tham gia của bố mẹ anh H là ông Phạm Viết H2 và bà Nguyễn Thị T cho biết: chị D và anh H kết hôn ngày 25/9/2007 tại UBND phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống cùng với gia đình ông bà tại số nhà 11, tổ 58D, khu 6C, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng chị D anh H có mâu thuẫn. Hiện nay, anh H đi làm ăn xa nhà, thỉnh thoảng anh H có liên lạc về nhà, cụ thể anh H đang ở đâu thì ông H2 và bà T không biết rõ, các giấy tờ Tòa án giao, ông bà đều thông báo lại cho anh H khi anh H liên lạc về với gia đình nhưng anh H không có ý kiến gì. Giữa chị D và anh H có 02 con chung là cháu Phạm Duy L – Sinh ngày 01/5/2008 và cháu Phạm Minh H1 – Sinh ngày 10/7/2012. Chị D và 02 cháu đã chuyển ra khỏi nhà ông bà từ lâu, cả hai cháu đều đang ở cùng chị D.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình khi không nhận các thông báo cũng như các quyết định của Tòa án, không đến Tòa án theo giấy triệu tập.

Về nội dung vụ án:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Kim D: xử cho chị D được ly hôn với anh Phạm Duy H.

- Về con chung: Giao cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Phạm Duy L – Sinh ngày 01/5/2008 và cháu Phạm Minh H1 – Sinh ngày 10/7/2012, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị D không yêu cầu.

- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị D phải chịu án phí theo quy định của Pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, bị đơn vắng mặt . Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn có nơi cư trú tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về việc vắng mặt của anh Phạm Duy H, Hội đồng xét xử thấy rằng: quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H không đến Tòa án để giải quyết vụ án nên Tòa án không tiến hành hòa giải được là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 05/7/2019 Tòa án đưa vụ án ra xét xử, đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho gia đình anh H và niêm yết tại nơi cư trú của anh H nhưng anh H vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa cho gia đình anh H và niêm yết tại nơi cư trú của anh H. Tại phiên Tòa hôm nay anh H vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Phạm Duy H là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

.Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Kim D và anh Phạm Duy H đăng ký kết hôn ngày 25/9/2007 tại UBND phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, trước khi kết hôn được tìm hiểu tự nguyện không ai bị ép buộc. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.Sau khi kết hôn chị D và anh H sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau. Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình giải quyết tại Tòa án chị D cương quyết xin ly hôn còn anh H vắng mặt nên không có quan điểm.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Kim D, Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa chị D và anh H đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do theo lời trình bày của chị D là anh H không quan tâm đến vợ con, thường xuyên tụ tập chơi bời. Tại biên bản làm việc ngày 05/6/2019 với chính quyền địa phương và bố mẹ đẻ anh H cũng xác nhận vợ chồng chị D và anh H có mâu thuẫn, anh chị đã sống ly thân từ lâu, anh H đi làm ăn xa nhà, chị D và 02 con chung đã về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ. Như vậy yêu cầu xin ly hôn của chị D là có căn cứ vì cuộc sống chung giữa chị D và anh H không có hạnh phúc, mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần xử cho chị D được ly hôn với anh H là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: Chị D và anh H có 02 con chung là cháu Phạm Duy L – Sinh ngày 01/5/2008 và cháu Phạm Minh H1 – Sinh ngày 10/7/2012. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, chị D xin được nuôi 02 con và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu xin được nuôi con của chị D là chính đáng, vì trong nhiều năm qua chị D luôn là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung, anh H đi vắng xa nhà đã lâu không về thăm và có trách nhiệm với 02 con chung, mặt khác 02 cháu đều có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Vì vậy cần giao cháu Phạm Duy L – Sinh ngày 01/5/2008 và cháu Phạm Minh H1 – Sinh ngày 10/7/2012 cho chị D trược tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị D không yêu cầu.

- Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Vì anh H vắng mặt không có quan điểm và chị D không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

- Về án phí: Chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Các điều 51, 56, 58, 81,82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Cho chị Võ Thị Kim D được ly hôn với anh Phạm Duy H.

Về con chung: Giao cho chị Võ Thị Kim D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là cháu Phạm Duy L – Sinh ngày 01/5/2008 và cháu Phạm Minh H1 – Sinh ngày 10/7/2012. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị D không yêu cầu.

Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối con chung, không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ, thăm nom và chăm sóc con chung.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Võ Thị Kim D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị D đã nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0000107 ngày 21/5/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ