vanban.org

Bản án 32/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Ph và anh Nguyễn Văn H.

Về nuôi con: Giao con chung là Nguyễn Hùng C, sinh ngày 13/12/2011 cho chị Lê Thị Ph trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân và gia đình giữa chị Ph và anh H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Ph và anh Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2019/HNGĐ-ST
Ngày 20-8-2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quang Vinh

Ông Nguyễn Anh Thơ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hoàng- Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Lê Kim Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 185/2019/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ph; ĐKHKTT: Tổ dân phố Tr, phường Đ, quận H, Hải Phòng; nơi ở: Số 4 ngõ 216 đường C, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H; ĐKHKTT: Tổ dân phố Tr, phường Đ, quận H, Hải Phòng; hiện đang chấp hành án phạt tù tại đội 20 phân trại số 2 Trại giam X, huyện Th, Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 12 tháng 6 năm 2019, bổ sung ngày 26 tháng 6 năm 2019, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn là chị Lê Thị Ph trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Ph và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng vào ngày 14 tháng 10 năm 2011. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với gia đình anh H tại tổ dân phố Tr, phường Đ, quận H, Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong tính cách, lối sống, dẫn đến thường xuyên đánh, cãi nhau. Mặt khác, anh H ham chơi, vi phạm pháp luật nhiều lần. Năm 2016, anh H bị bắt và bị xử phạt 20 năm tù về tội “Giết người”. Thực tế quan hệ hôn nhân giữa chị Ph và anh H đã không còn tồn tại, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn, nên chị Ph giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh H.

Về nuôi con: Chị Ph và anh H có 01 con chung là Nguyễn Hùng C, sinh ngày 13/12/2011. Chị Ph yêu cầu được trực tiếp nuôi con vì chị Ph đảm bảo các điều kiện để chăm sóc, nuôi dạy con. Cụ thể: Về nơi ở, hiện chị Ph đang ở với mẹ đẻ tại số 4 ngõ 216 đường C, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; chị Ph làm nghề buôn bán hải sản tự do tại Chợ B, Quận Ng, Hải Phòng với thu nhập khoảng 10 triệu đồng một tháng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị Ph và anh H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Ph và anh H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai của đương sự ghi ngày 15/7/2019, bị đơn là anh Nguyễn Văn H trình bày: Về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như lời trình bày của chị Ph. Về mâu thuẫn của vợ chồng phát sinh do không có tiếng nói chung trong việc làm ăn. Anh H phải chấp hành án phạt tù về tội “Giết người” từ ngày 21/10/2016. Nay anh H đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị Ph. Về nuôi con: Anh H và chị Ph có 01 con chung là Nguyễn Hùng C, sinh ngày 13/12/2011. Anh H không đồng ý cho chị Ph nuôi con vì chị Ph đã bỏ đi từ lâu, cháu C do anh H và bố mẹ anh H nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Anh H và chị Ph không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên có ý kiến như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân quận Hải An nhận định:

- Về tố tụng:

Bị đơn có lời khai đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Ph và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong tính cách, lối sống, không có tiếng nói chung trong công việc làm ăn. Mặt khác, anh H phải chấp hành hình phạt tù 20 năm về tội “Giết người” từ ngày 21/10/2016, dẫn đến tình cảm vợ chồng xa cách, quan hệ hôn nhân không còn tồn tại trong thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Ph xác nhận không còn tình cảm với anh H, giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh H. Anh H cũng đồng ý. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Ph, cho ly hôn giữa chị Ph và anh H theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con: Chị Ph và anh H cùng xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Hùng C, sinh ngày 13/12/2011. Xét anh H hiện đang phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam X nên không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Mặt khác, chị Ph có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con và cháu C có nguyện vọng ở với mẹ. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị Ph. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Ph yêu cầu để hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hộị đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: Chị Ph và anh H đều xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội,

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Ph và anh Nguyễn Văn H.

2. Về nuôi con: Giao con chung là Nguyễn Hùng C, sinh ngày 13/12/2011 cho chị Lê Thị Ph trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, ngườ i không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở .

3. Về án phí: Chị Lê Thị Ph phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị Ph đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005096 ngày 26/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ