- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Biện Thị Cẩm Q và anh Nguyễn Văn K.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 32/2019/HNGĐ-ST Ngày: 09-5-2019 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Tấn Đồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Phẩm
2. Ông Nguyễn Đinh Cường
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thúy Nga, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 09 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2019/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2019. Về việc: Tranh chấp “Xin ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2019/QĐXXST –HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Biện Thị Cẩm Q, sinh năm 1998; địa chỉ cư trú ấp A, xã L, huyện L, tỉnh V (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1993; địa chỉ cư trú ấp A, xã M, huyện, tỉnh V (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 25 tháng 01 năm 2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Biện Thị Cẩm Q trình bày: Vào năm 2017, chị và anh K kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long An, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long ngày 23 tháng 10 năm 2017. Chị Q cho rằng sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn dẫn đến thường xuyên gây cãi và mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được nên chị đã về nhà cha mẹ ruột sống và hai người đã ly thân từ năm 2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị Q xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.
Quá trình chung sống chị Q và anh K không có con chung.
Về chia tài sản chung và nợ chung chị Q không yêu cầu giải quyết.
Chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình chị Q đã cung cấp cho Tòa án Giấy chứng nhận kết hôn số 84 ngày 23 tháng 10 năm 2017 (Bản chính).
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có thông báo cho bị đơn anh K biết việc thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu của chị Q. Nhưng anh K không có văn bản trả lời, không có yêu cầu phản tố và vắng mặt tại các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải các ngày 04 tháng 3 năm 2019; ngày 25 tháng 3 năm 2019; phiên tòa ngày 12 tháng 4 năm 2019 và phiên tòa ngày hôm nay. Mặc dù đã được tống đạt triệu tập hợp lệ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Các đương sự tranh chấp ly hôn là tranh chấp hôn nhân và gia đình; bị đơn anh K có nơi cư trú tại xã Mỹ An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn anh K đều vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh K là đúng theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Vào năm 2017, chị Q và anh K kết hôn. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long An, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long ngày 23 tháng 10 năm 2017. Vì vậy hôn nhân của chị Q và anh K là hợp pháp.
Xét; việc chị Q cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình hai người không hợp nhau dẫn đến thường xuyên gây cãi. Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trâm trọng, không khắc phục được. Mặc dù đã được gia đình hòa giải nhiều lần để cho hai người đoàn tụ chung sống với nhau nhưng không có kết quả. Hơn nữa, hiện nay chị Q xác định chị không còn tình cảm với anh K và hai người đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Q và anh K đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc chị Q yêu cầu được ly hôn với anh K là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
Về nuôi con chung: Không có con chung.
Về chia tài sản và nợ chung: Không có yêu cầu giải quyết nên không xét.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 9; 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 24 và Điểm a Kho ản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Biện Thị Cẩm Q và anh Nguyễn Văn K.
2. Về nuôi con chung: Không có con chung.
3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu giải quyết nên không giải quyết
4. Về án phí: Chị Biện Thị Cẩm Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng ) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006833 ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít, như vậy chị Biện Thị Cẩm Q không phải nộp thêm tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hh án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh V; -VKSND huyện M; - Chi cụcTHADS huyện M; - UBND xã L; - Đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án. TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi 09 giờ 25 phút, ngày 09 tháng 5 năm 2019. Tại phòng nghị án Tòa án nhân dân huyện Mang Thít Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Tấn Đồng Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Nguyễn Văn Phẩm 2. Ông Nguyễn Đinh Cường HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2019. Về việc: Tranh chấp “Xin ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2019/QĐXXST –HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự: L, huyện L, tỉnh V (Có mặt). xã Mỹ An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (Vắng mặt). tụng tại phiên toà, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU *Ý kiến thảo luận của Hội thẩm ông Nguyễn Văn Phẩm: [1] Về tố tụng: đơn anh K có nơi cư trú tại xã Mỹ An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn anh K đều vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh K là đúng theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về nội dung: hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long An, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long ngày 23 tháng 10 năm 2017. Vì vậy hôn nhân của chị Q và anh K là hợp pháp. không hợp nhau dẫn đến thường xuyên gây cãi. Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trâm trọng, không khắc phục được. Mặc dù đã được gia đình hòa giải nhiều lần để cho hai người đoàn tụ chung sống với nhau nhưng không có kết quả. Hơn nữa, hiện nay chị Q xác định chị không còn tình cảm với anh K và hai người đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Q và anh K đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc chị Q yêu cầu được ly hôn với anh K là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận. [2.2] Về nuôi con chung: Không có con chung. của Hội thẩm Nguyễn Văn Phẩm. quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án , người phải thi hành án, thời hiệu theo Luật Thi hành án dân sự, quy định về quyền kháng cáo theo luật định cho các đương sự. cần giải quyết vụ án như sau: Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; 2014; 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Tuyên xử: 2. Về nuôi con chung: Không có con chung. giải quyết đồng ) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006833 ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít, như vậy chị Biện Thị Cẩm Q không phải nộp thêm tiền án phí. Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hh án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Biên bản nghị án kết thức vào hồi 09 giờ 55 phút cùng ngày. cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trương Tấn Đồng CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 24/2019/TLST- 1. Nguyên đơn: Chị Biện Thị Cẩm Q, sinh năm 1998; địa chỉ cư trú ấp A, xã 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1993; địa chỉ cư trú ấp An Hương 2, Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh [1.1] Các đương sự tranh chấp ly hôn là tranh chấp hôn nhân và gia đình; bị [1.2] Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập [2.1] Về hôn nhân: Vào năm 2017, chị Q và anh K kết hôn. Có đăng ký kết Xét; việc chị Q cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình hai người [2.3] Về chia tài sản và nợ chung: Không có yêu cầu giải quyết nên không xét. [2.4] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. *Ý kiến của Hội thẩm Nguyễn Đinh Cường thống nhất với ý kiến thảo luận *Ý kiến chủ tọa, thống nhất với ý kiến thảo luận của hai vị Hội thẩm, bổ sung Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất 3/3 (đạt 100%) quyết định các vấn đề Căn cứ vào các Điều 9; 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm Căn cứ vào Điều 24 và Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Biện Thị Cẩm Q và anh Nguyễn Văn K. 3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu giải quyết nên không 4. Về án phí: Chị Biện Thị Cẩm Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |