vanban.org

Bản án 32/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật tố tụng dân sự;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hon nhan"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 03 - 6 - 2019
V/v: “Tranh chấp hôn nhân
và gia đình - ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Dương Văn Hôm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Bền

2. Ông Huỳnh Hoàng Nam

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Mỹ Nhan – Thư ký Toà án nhân dân huyện

Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang

tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 03 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng,

tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:

115/2019/TLST - HNGĐ, ngày 13 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp xin ly hôn,

nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2019/QĐXXST-

HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2019. Giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ch, sinh năm: 1976; địa chỉ cư trú: Ấp Trần Văn

Nghĩa, xã Bàn Tân Định, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1973; địa chỉ cư trú: Ấp Trần Văn

Nghĩa, xã Bàn Tân Định, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án,

nguyên đơn chị Lê Thị Ch trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn N tự tìm hiểu quen biết nhau, được cha mẹ hai bên

đồng ý tổ chức lễ cưới vào năm 1995 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bàn Tân Định, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Sau khi cưới chị và anh N chung sống không có hạnh phúc và bắt đầu phát

sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tánh tình không hợp, bất đồng quan điểm thường xuyên cải nhau, anh N bản tính thô lỗ, cọc cằn thường xuyên ngược đãi chị. Chị và anh N đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay.

Trong quá trình chung sống anh, chị có hai con chung tên Nguyễn Văn

Lưng, sinh ngày: 08/12/1996 (đã trưởng thành) và Nguyễn Văn Bảo, sinh ngày: 21/12/2001, hiện con do anh N nuôi dưỡng.

Về tài sản và nợ chung: Không có

Nay chị Ch khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn

với anh N. Về con chung: Chị Ch yêu cầu được quyền nuôi con Nguyễn Văn Bảo, không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản, nợ chung: Không có.

Anh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng hết

thời gian quy định vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập anh N đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh N vẫn vắng mặt, không rõ lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Ch khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh N nên đây là

“Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – xin ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh N là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại

phiên tòa nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh N theo quy định tại điểm b khoản 02 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

- Xét về hôn nhân: Chị Ch và anh N kết hôn vào năm 1995 và đã đăng ký kết

hôn nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Xét thấy, vợ chồng anh, chị đã sống ly

thân từ năm 2012, từ đó đến nay hai bên không quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho

nhau nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn

nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích

hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Ch yêu cầu được ly hôn với anh N là phù

hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội

đồng xét xử chấp nhận.

- Về con chung: Chị Ch yêu cầu được quyền nuôi con Nguyễn Văn Bảo,

không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai ngày 12/4/2019

cháu Bảo có nguyện vọng tiếp tục chung sống với chị Ch. Xét yêu cầu nuôi con

của chị Ch và nguyện vọng của cháu Linh là phù hợp theo quy định tại khoản 2

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được Tòa án ghi nhận. Anh N có quyền,

nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản và nợ chung: Không có.

Về án phí:

Chị Ch yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu

cầu ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền

tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền

tạm ứng án phí, lệ phí số 0007535 ngày 08/3/2019 của Chi Cục thi hành án dân sự

huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của

Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,

thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị Ch được ly hôn với anh

Nguyễn Văn N.

2. Về con chung: Ghi nhận nguyện vọng của cháu Bảo muốn được chung

sống với chị Ch. Chị Ch được quyền nuôi dưỡng con Nguyễn Văn Bảo, sinh ngày: 21/12/2001 cho đến khi trưởng thành (trừ trường hợp thay đổi quyền nuôi con theo quy định của pháp luật). Chị Ch không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không giải quyết.

Anh Nguyễn Văn N có quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung

không ai được cản trở.

3. Về tài sản và nợ chung: Không có

4. Về án phí: Chị Ch yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm

đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0007535 ngày 08/3/2019 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án sơ thẩm 03/6/2019, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ