vanban.org

Bản án 32/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, xử cho bà Lê Ngọc H và ông Võ Thanh S được ly hôn với nhau.

Về con chung: Giao cháu Võ B , sinh ngày 01/02/2017 cho ông S trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; ông S không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết. “Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn cũng như việc thăm nom, chăm sóc con… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, xử cho bà Lê Ngọc H và ông Võ Thanh S được ly hôn với nhau.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO LÂM
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2019/HNGĐ-ST
Ngày 12/8/2019.
Về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn L .

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Hồ Thị Hồng L .

2. Ông: Phạm Đức M .

Thư ký phiên tòa: Bà Ka H – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc A-Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 12 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 76/2019/TLHNGĐ-ST ngày 08/4/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2019/QĐHNGĐ-ST ngày 24/7/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc H , sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn 07, xã L, huyện B , tỉnh Lâm Đồng (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Võ Thanh S , sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn 07, xã L, huyện B , tỉnh Lâm Đồng. Hiện đang cư trú tại Ấp L, xã P, huyện C, tỉnh B (Có yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Tại đơn khởi kiện ngày 03/4/2019, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

* Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông S có quen biết tìm hiểu yêu nhau được 06 tháng thì quyết định đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B , tỉnh Lâm Đồng vào ngày 24/6/2016. Hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc gì, được gia đình hai bên đồng ý, có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Quá trình chung sống với nhau vợ chồng sống không hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông S thường xuyên rượu chè, chởi bới bố mẹ bà H và bà H . Tháng 8/2016 vợ chồng ly thân, không ai quan tâm ai, tình cảm vợ chồng không còn do vậy bà H xin được ly hôn với ông S .

* Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Võ B , sinh ngày 01/02/2017. Ly hôn bà H đồng ý giao con cho ông S nuôi dưỡng, bà H không cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản chung: Không có.

* Về nợ chung: Không có.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/7/2019, bị đơn ông S trình bày về quan hệ hôn nhân như bà H trình bày là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên đến tháng 8/2016 vợ chồng đã sống ly thân, hiện nay ông đang nuôi con và sinh sống tại Ấp L, xã P, huyện C, tỉnh B . Do tình cảm không còn nên bà H yêu cầu ly hôn ông S đồng ý; vợ chồng có 01 con chung tên Võ B , sinh ngày 01/02/2017; ly hôn ông S yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con; vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà H và ông S được ly hôn với nhau; Giao con chung cho ông S trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, ông S không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con; buộc bà H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ông S có yêu cầu đề nghị vắng mặt nên áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông S có tìm hiểu yêu nhau được 06 tháng thì quyết định đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B , tỉnh Lâm Đồng vào ngày 24/6/2016; hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc gì nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Quá trình chung sống, bà H và ông S đều xác nhận vợ chồng bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân từ tháng 8/2016, bà H yêu cầu ly hôn ông S cũng đồng ý cho thấy hôn nhân của bà H , ông S đã trầm trọng, không thể hàn gắn được với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 cần chấp nhận yêu cầu bà H , xử cho bà H và ông S được ly hôn với nhau.

Về con chung: Việc giao con cho ai cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con. Xét thấy cháu Võ B đang dưới 36 tháng tuổi và trong thời gian ly thân ông S là người trực tiếp nuôi con cho đến nay, bà H có nguyện vong giao con cho ông S tiếp tục nuôi dưỡng, ông S cùng đồng ý nên cần giao con cho ông S tiếp tục nuôi dưỡng, ông S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH :

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, xử cho bà Lê Ngọc H và ông Võ Thanh S được ly hôn với nhau.

2. Về con chung: Giao cháu Võ B , sinh ngày 01/02/2017 cho ông S trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; ông S không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

“Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn cũng như việc thăm nom, chăm sóc con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.”

3. Về án phí: Buộc bà Lê Ngọc H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2016/0012870 ngày 08/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng (Bà H đã nộp xong).

4. Về quyền kháng cáo: Bà H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (12/8/2019); ông S được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ