- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo bà Hồ Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 07/2019/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2019/DS-PT Ngày 10 - 7 - 2019 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Đồng Chung
Các Thẩm phán: Ông K’Tiêng và ông Lương Đức Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thúy Hảo là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Cần - Kiểm sát viên.
Ngày 10-7-2019, tại trụ sở tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2019/TLPT-DS ngày 30 tháng 05 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” do bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2019/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 04/2019/QĐ-PT ngày 28 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T - Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung X, địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.
2. Bị đơn: Bà Hồ Thị T - Có mặt.
Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông.
Người kháng cáo: Bị đơn bà Hồ Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 02-01-2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và người đại diện theo ủy quyền của bà T là ông Nguyễn Trung X trình bày:
Do có quan hệ quen biết nên ngày 30-11-2018, bà Nguyễn Thị T cho bà Hồ Thị T vay số tiền 435.000.000 đồng, có viết giấy vay tiền, hai bên không thỏa thuận tiền lãi suất. Bà Hồ Thị T hẹn đến ngày 01-01-2019 sẽ thanh toán cho bà Nguyễn Thị T 220.000.000 đồng, ngày 02-02-2019 sẽ thanh toán cho bà Nguyễn Thị T số tiền còn lại là 215.000.000 đồng.
Quá hạn thanh toán số tiền 220.000.000 đồng nhưng bà Hồ Thị T không thực hiện nghĩa vụ như thoả thuận mà làm thủ tục sang nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất cho người thân để tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ nên bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu bà Hồ Thị T phải trả cho bà Nguyễn Thị T toàn bộ số tiền nợ là 435.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật đối với khoản tiền bà Hồ Thị T vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Thị T chỉ yêu cầu bà Hồ Thị T phải trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 435.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
Bị đơn bà Hồ Thị T trình bày:
Bà Hồ Thị T công nhận nội dung có nợ bà Nguyễn Thị T số tiền 435.000.000 đồng là đúng sự thật, chữ ký trong giấy vay tiền là của bà Hồ Thị T. Tuy nhiên các khoản nợ này có nguồn gốc từ việc chơi biêu (hụi) từ trước chứ không phải bà Hồ Thị T trực tiếp vay tiền. Bà Hồ Thị T đồng ý trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền nợ 435.000.000 đồng. Tuy nhiên do hiện nay hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bà Thuỷ có nguyện vọng được trả dần.
Bản án sơ thẩm số: 07/2019/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bà Hồ Thị T phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị T số tiền 435.000.000 đồng. Ngoài ra Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ nếu chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20-5-2019, bà Hồ Thị T kháng cáo toàn bộ bản án. (Bà Hồ Thị T vắng mặt tại phiên tòa, bà nhận được bản án sơ thẩm vào ngày 08-5-2019, do đó kháng cáo đúng thời hạn).
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Hồ Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 07/2019/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Hồ Thị T phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Xét yêu cầu kháng cáo của bà Hồ Thị T, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T xác định, bà có cho bà Hồ Thị T vay số tiền 435.000.000 đồng. Bà Hồ Thị T hẹn đến ngày 01-01-2019 sẽ thanh toán cho bà Nguyễn Thị T số tiền 220.000.000 đồng, ngày 02-02-2019 sẽ thanh toán cho bà Nguyễn Thị T số tiền còn lại là 215.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất. Các bên có viết giấy vay tiền đã cung cấp cho Tòa án. Qúa trình giải quyết vụ án, bà Hồ Thị T cũng thừa nhận chữ kí trong giấy vay tiền là của bà Hồ Thị T tự nguyện kí vào và bà đồng ý sẽ trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền là 435.000.000 đồng nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên yêu cầu được trả dần. Như vậy, đủ căn cứ để kết luận bà Hồ Thị T có vay của bà Nguyễn Thị T số tiền 435.000.000 đồng và đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Bà Hồ Thị T cho rằng số tiền 435.000.000 đồng trong giấy vay tiền có nguồn gốc từ việc chơi biêu (hụi) từ trước chứ không phải bà Hồ Thị T trực tiếp vay tiền. Tuy nhiên, bà Hồ Thị T không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho nội dung bà Hồ Thị T đưa ra, do đó Toà án nhân dân huyện Krông Nô giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, buộc bà Hồ Thị T phải trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 435.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và phiên tòa sơ thẩm, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng bà Hồ Thị T đều vắng mặt, do đó các bên không thỏa thuận được đối với nội dung bà Hồ Thị T đề nghị được trả nợ làm nhiều lần cho bà Nguyễn Thị T, do đó Tòa án nhân dân huyện Krông Nô quyết định buộc bà Hồ Thị T phải trả đủ cho bà Nguyễn Thị T số tiền 435.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên không thỏa thuận được về nội dung này.
. Tại đơn kháng cáo, bà Hồ Thị T cho rằng bà không vay của bà Nguyễn Thị T số tiền 435.000.000 đồng, số tiền này là do bà Nguyễn Thị T cùng chơi biêu hụi với nhiều người góp tại chỗ bà Hồ Thị T, số tiền bà Nguyễn Thị T góp là 335.000.000 đồng, trong đó bà Nguyễn Thị T tính lãi hụi là 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bà Hồ Thị T cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho nội dung này.
. Từ phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Hồ Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 07/2019/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông là có căn cứ cần chấp nhận.
. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Hồ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí bà Hồ Thị T đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo bà Hồ Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 07/2019/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
Căn cứ các điều 26, 35, 39, 144, 147, 227, 235, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 274; Điều 275; Điều 463; Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
Buộc bà Hồ Thị T phải trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 435.000.000đ (Bốn trăm ba mươi lăm triệu đồng).
2. Kể từ ngày bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi bà Hồ Thị T thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bà Hồ Thị T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Hồ Thị T phải chịu 21.400.000đ (Hai mươi mốt triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T 10.070.000đ (Mười triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0003132 ngày 02-01-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bà Hồ Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp, theo biên lai số 0000820, ngày 25-5-2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Nông.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Chi cục THADS huyện K; - Tòa án nhân dân huyện Krông Nô; - Các đương sự; - Lưu: Tổ HCTP, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký và đóng dấu) Đỗ Đồng Chung |