- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Luong C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lương Công phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2018/HSST Ngày: 29 - 8 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Anh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Đình Tâm.
2. Bà Nguyễn Thị Hà.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Văn Hải - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2018/HSST, ngày 03 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Lương C; sinh ngày: 20/12/1994; tại: xã Thành Tiến, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn 6, xã Thành Tiến, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Lương L; con bà: Trương Thị Ch; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị tạm giữ 09 ngày, kể từ ngày 13/5/2018 đến ngày 22/5/2018, sau đó bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 22/5/2018 cho đến nay, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Những người chứng kiến:
1. Anh Mai Minh Th; sinh năm: 1995; nơi cư trú: Khu 6, thị trấn Kim Tân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt tại phiên tòa
2. Anh Nguyễn Hữu H; sinh năm: 1968; nơi cư trú: Khu 4, thị trấn Kim Tân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa; có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 20 giờ, ngày 13/5/2018, tổ công tác Công an huyện Thạch Thành phối hợp với Công an thị trấn Kim Tân, huyện Thạch Thành thực hiện nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực trước quán cà phê Dũng Hùng thuộc khu 4, thị trấn Kim Tân, đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Lương C, phát hiện trên bàn tay trái của C đang cầm 02 túi nilon có kích thước (2 x 2) cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng và trong chiếc cặp C đeo bên người 21 túi nilon bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng gồm: 18 túi nilon có kích thước (2 x 2) cm; 02 túi nilon màu trắng có kích thước (3 x 4) cm và 01 túi nilon có kích thước (6 x 10) cm. Khai thác nhanh tại chỗ, C khai nhận các hạt tinh thể màu trắng bên trong các túi nilon trên là ma túy đá, C tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Lực lượng công an đã đưa Nguyễn Lương C về trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn Kim Tân lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ, niêm phong toàn bộ số ma túy; thu giữ chiếc cặp da; bộ dụng cụ để sử dụng ma túy gồm 01 bình thủy tinh, 01 ống thủy tinh, 01 ống nhựa; 02 chiếc bật lửa; điện thoại di động và xe mô tô của C để phục vụ công tác điều tra.
Tại kết luận giám định số 987/MT-PC54 ngày 18/5/2018, của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng có trong 23 túi nilon thu giữ của Nguyễn Lương C là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 3,614 gam.
Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKSTT, ngày 03/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Nguyễn Lương C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).
Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, u khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; xử phạt Nguyễn Lương C từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ trước đó vào thời gian chấp hành hình phạt.
Kết quả xác minh về tài sản thu nhập, xác định hiện tại bị cáo không có tài sản gì nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy, C khai bản thân là người nghiện ma túy, nên ngày 10/5/2018, C một mình đi xuống khu vực trại giam số 5 thuộc huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa mua 01 túi ma túy của người đàn ông không quen biết với giá 2.000.000 đồng và được người này cho thêm một số vỏ túi nilon để phân chia ma túy. Khi về nhà, C lấy số ma túy ra phân chia thành 26 túi có kích thước khác nhau rồi cất giấu vào chiếc cặp với mục đích để sử dụng dần cho bản thân. C đã sử dụng hết 03 túi, số ma túy còn lại C mang theo trên người thì bị công an thu giữ khi bắt quả tang. Tuy nhiên, C không cung cấp được các thông tin cụ thể về nhân thân của người bán ma túy nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.
Về vật chứng, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS): Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá gồm 01 bình thủy tinh, 01 ống thủy tinh, 01 ống nhựa; 01 chiếc cặp da và 02 chiếc bật lửa. Chiếc xe mô tô, điện thoại di động đã thu giữ của Nguyễn Lương C, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Lương C, đại diện Viện Kiểm sát không đề cập xử lý.
Bị cáo Nguyễn Lương C khai nhận: Khoảng 20 giờ, ngày 13/5/2018, bị cáo xuống thị trấn Kim Tân đi chơi, khi đi bị cáo mang theo chiếc cặp da bên trong có 23 túi nilon là ma túy đá; 01 bình thủy tinh hình trụ màu trắng; 01 ống thủy tinh màu trắng; 01 ống nhựa màu xanh; 02 chiếc bật lửa. Khi đến trước cửa quán cà phê Dũng Hùng thuộc khu 4, thị trấn Kim Tân, bị cáo dừng lại lấy 02 gói ma túy trong cặp ra mục đích vào quán cà phê để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Thạch Thành kiểm tra, phát hiện và bắt giữ.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi, mà còn là tiền đề và điều kiện phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác trong xã hội.
Kết quả giám định chất ma túy của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận, trọng lượng Methamphetamine có trong hai mẫu gửi giám định ký hiệu M1 là 0,143 g (không phẩy một trăm bốn mươi ba gam) và M2 là 3,471g (ba phẩy bốn trăm bảy mươi mốt gam).
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận, ngày 13/5/2018, Nguyễn Lương C đã có hành vi tàng trữ trái phép 3,614g (ba phẩy sáu trăm mười bốn gam) chất ma túy (Methamphetamine), do đó, có đủ căn cứ xác định bị cáo đã có hành vi phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng; có hai tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội, bị cáo đã cung cấp thông tin giúp Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Thành bắt được các đối tượng đánh bạc, Cơ quan điều tra đã có giấy xác nhận về việc bị cáo lập công chuộc tội. Cần chấp nhận đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, u khoản 1 Điều 51 BLHS. Nghĩ cần lên cho bị cáo một mức án phù hợp và cần cách ly khỏi xã hội một thời gian. Thời gian bị cáo bị tạm giữ sẽ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt.
Về người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Lương C, quá trình điều tra không xác định được danh tính người này nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra mở rộng vụ án.
Về hình phạt tiền bổ sung: Quá trình điều tra, xác minh điều kiện tài sản của Nguyễn Lương C, xác định Công đang sống chung cùng bố mẹ không có tài sản riêng gì, nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng của vụ án (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/8/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Thạch Thành và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành).
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lương Công phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, u khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt Nguyễn Lương C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày đi thi hành án. Bị cáo được trừ 09 (Chín) ngày đã bị tạm giữ từ trước vào thời gian chấp hành hình phạt.
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì do phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đăng, Trần Thị Thúy Hằng, Bùi Quốc Tùng và 07 hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 0,126g (không phẩy một hai sáu gam) các hạt tinh thể màu trắng (kết luận giám định là Methamphetamine) của phong bì ký hiệu M1; 3,327g (ba phẩy ba hai bảy gam) các hạt tinh thể màu trắng (kết luận giám định là Methamphetamine) của phong bì ký hiệu M2; 01 cặp da màu nâu, bên ngoài có dòng chữ LOOKAT accessorl cặp đã qua sử dụng; 01 bình thủy tinh hình trụ màu trắng; 01 ống thủy tinh màu trắng; 01 ống nhựa màu xanh có chiều dài 14cm; 02 chiếc bật lửa đã qua sử dụng.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo Nguyễn Lương C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Thạch Thành; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an huyện Thạch Thành; - Đội THAHS công an Thạch Thành; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Anh Đức |