vanban.org

Bản án 32/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên Tuyên án 20/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lý Giống C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lý Giống C 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày quyết định tạm giữ (08/5/2018). Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm a,b,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,27… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Giống Chá - Mua bán trái phép chất ma tuy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Giống C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
TỈNH Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2018/HSST
Ngày: 20/9/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH Đ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quàng Văn Xôm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Khoàng Văn Hặc.

2. Ông: Màng Văn Nơm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Phượng – Thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Đ.

- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm Sát Viên.

Ngày 20/9/2018 tại trụ sở Ủy Ban nhân dân xã Pa Ham huyện M, tỉnh Đ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2018/HSST ngày 10/8/2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2018/HSST- QĐ ngày 07 tháng 9 năm 2018, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Giống C - Tên gọi khác: Không; Sinh năm:1968, tại huyện M, tỉnh Đ; Nơi ĐKHKTT: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Đ; Chỗ ở hiện nay: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không; Bố đẻ: Ông Lý Chìa M (đã chết); mẹ đẻ: Sùng Thị S (đã chết); Vợ: Sùng Thị B – Sinh năm 1968; Bị cáo có 07 con, con lớn nhất 34 tuổi, con nhỏ nhất 02 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2000, bị Tòa án huyện M, tỉnh L xử phạt 2 năm tù về tội sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành đến năm 2001; Năm 2008 bị Tòa án huyện M, tỉnh Đ xử phạt 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành án đến năm 2011, đến nay đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/5/2018 sau đó tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo ông: Phùng Việt Hoa - Luật sư - Công tác viên trợ giúp pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ, có mặt tại phiên Tòa.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Giàng A S - SN: 1979; Địa chỉ: Bản H 1, xã M, huyện M, tỉnh Đ (vắng mặt không có lý do).

+ Cng Sáy P - SN: 1968; Địa chỉ: Bản H 2, xã M, huyện M, tỉnh Đ. (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biễn tại phiên tòa, nội dụng vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/5/2018, Lý Giống C đi đến bản Tân P, xã S, huyện N tìm mua ma túy, C đã gặp và trao đổi mua của người đàn ông không biết tên, địa chỉ được 01 gói ma túy giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy C mang về nhà dùng dao chia thành 10 gói nhỏ, C bỏ 06 gói vào chiếc lọ nhựa cất trong túi quần, 02 gói cất giấu dưới đệm, số bột vụn còn lại C gói thành 02 gói và đã sử dụng hết.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/5/2018, Giàng A S, sinh năm 1979, trú tại bản H 1, xã M cùng 02 người đàn ông tên N và D đến nhà C, S vào hỏi mua 100.000 đồng ma túy, C lấy 02 gói ma túy bán cho S, khi C và S đang trao đổi mua bán ma túy thì có Chang Sáy P, sinh năm 1968, trú tại bản H 2, xã M cũng vào hỏi mua ma túy và C đã bán cho P 01 gói ma túy giá 50.000 đồng. Sau khi S mua được ma túy cầm ra chỗ N và D, vì ít không đủ cho 3 người dùng nên N đưa cho S 50.000 đồng vào mua thêm ma túy. S đã quay vào mua của C thêm 01 gói ma túy giá 50.000 đồng. S cầm ma túy cùng N và D đi ra bếp nhà C sử dụng hết rồi đi về. Việc trao đổi mua bán ma túy giữa C với S và giữa C với P diễn ra trong cùng một thời điểm, S và P đều chứng kiến việc mua bán ma túy của nhau với C. Như vậy, C đã bán ma túy cho hai người là Giàng A S và Chang Sáy P. Đến 19 giờ cùng ngày tại nhà C, tổ công tác Công an huyện M kiểm tra phát hiện tại túi quần bên phải mà C đang mặc có 01 lọ nhựa màu trắng bên trong có 02 gói heroine có khối lượng 0,073 gam và số tiền 600.000 đồng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.

Tiến hành khám xét nơi ở của C phát hiện và thu giữ 02 gói heroine có khối lượng 0,313 gam ở dưới đệm tại giường ngủ trong buồng của vợ chồng C.

Tại cáo trạng số 21/CT-VKS-MC ngày 09/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Đ:

- Truy tố Lý Giống C ra trước Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Đ để xét xử về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251/BLHS.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Đ giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội. Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, theo quy định của pháp luật hiện hành, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố:

+ Bị cáo Lý Giống C phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38/BLHS; Xử phạt bị cáo Lý Giống C từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

+ Bị cáo là đối nghiện ma túy kinh tế khó khăn nên đề nghị miễn không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251/BLHS.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 ; điểm a,b,c khoản 2 ; điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,276 gam heroine còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định; 01 con dao nhọn; 01 lọ nhựa miệng lọ được nối với một ống tre; 01 bơm kim tiêm; 01 bật lửa ga. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có. Trả lại cho bị cáo số tiền 400.000 đồng (tiền bán lợn của gia đình của bị cáo).

- Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Ý kiến của ngƣời bào chữa: Đề nghị HĐXX xem xét cân nhắc và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 251/BLHS, tuyên phạt bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát. Bị cáo là dân tộc thiểu số sống vùng kinh tế đặc biệt khó khăn đề nghị HĐXX xem xét miễn toàn bộ cho bị cáo án phí HSST và hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

Sau khi nghe lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của người bào chữa. Bị cáo đồng ý với lời luận tội của Viện kiểm sát và đồng ý với ý kiến của người bào chữa và không bổ sung tranh luận gì.

Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trong hồ sơ còn thể hiện:

Theo lời khai của bị cáo số Heroine mà bị cáo có được là bị cáo mua của một người đàn ông nhưng không biết rõ họ tên, địa chỉ của người này ở đâu nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Đối với Giàng A S, Cng Sáy P đã mua heroine của bị cáo và đã sử dụng hết nên không có cơ sở để xác định khối lượng heroine S và P đã mua nên không có căn cứ để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Công an huyện M đã quyết định xử phạt hành chính đối với S và P về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với 2 người đàn ông tên Nọ và De cùng S đến nhà C khi mua ma túy. Số tiền S dùng mua ma túy do người đàn ông tên Nọ đưa cho. Do S, C không biết rõ họ tên, địa chỉ của những người này nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Việc S cùng hai người đàn ông tên Nọ và De sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Lý Giống C, nhưng do bị cáo không biết S, Nọ và De sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà mình nên không xử lý C về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngoài lần mua ma túy của Lý Giống C như đã nêu ở trên, thì trước đó Giàng A S, Chang Sáy P đã mua ma túy của C nhiều lần. Nhưng trong quá trình điều tra không đủ cơ sở để làm rõ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Xét về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều Tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, từ lúc khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đảm bảo về hình thức, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét về hành vi của bị cáo: Trong khoảng thời gian từ 18 giờ 30 phút đến 19 giờ ngày 07/5/2018, tại nhà của Lý Giống C ở Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Đ, C đã bán trái phép chất ma túy cho 2 người là Giàng A S và Chang Sáy P thì bị phát hiện bắt tang thu giữ của Lý Giống C 04 gói heroine có khối lượng 0, 386 gam, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.

Qua tranh tụng và xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Lý Giống C đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình; lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra; Lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; biên bản bắt người phạm tội quả tang vào 19 giờ 05 phút, ngày 07/5/2018 tại nhà của bị cáo ở Bản Nậm C, xã M, huyện M, tang vật chứng; biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; Bản kết luận giám định số: 477/GĐ-PC54 ngày 19/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ, các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Trong khoảng thời gian từ 18 giờ 30 phút đến 19 giờ ngày 07/5/2018, Lý Giống C đã bán trái phép chất ma túy cho 2 người là Giàng A S và Chang Sáy P. Cơ quan điều tra thu giữ của Lý Giống C 04 gói heroine có khối lượng 0, 386 gam, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Với hành vi và khối lượng ma túy nêu trên của bị cáo Lý Giống C đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251/ BLHS.

Tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

"2. phạm tội một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

c) Đối với 02 người trở lên”

Vậy, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Đ truy tố bị cáo Lý Giống C về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251/BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo xử phạt bị cáo với mức hình phạt thấp nhất mà Kiểm sát viên đề nghị. Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo có đủ cơ sở để chấp nhận.

. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo sinh ra và lớn lên được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 2/10. Năm 1984 xây dựng gia đình cùng với Sùng Thị B. Do thích ăn đua đòi đã mắc nghiện ma túy. Năm 2000 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Lay nay là Tòa án Mường Chà xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản số 06/HSST ngày 02/3/2000. Năm 2008 bị Tòa án nhân dân huyện M xử phạt 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản số 34/HSST ngày 08/10/2008, sau khi mãn hạn tù lẽ ra phải lấy đó làm bài học sống và làm ăn lương thiện, thế nhưng chỉ được một thời gian lại tiếp tục tái nghiện. Ngày 08/5/2018 bị bắt quả tang hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, bị tạm giữ và sau đó tạm giam. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, vậy bị cáo được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

. Xét tính chất của vụ án xét thấy hành vi bán ma túy trái phép cho 02 người của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, nguy hiểm cho xã hội rất nghiêm trọng. Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ..., trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào đều phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật. Bị cáo nhận thức và hiểu rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đây cũng là cơ hội thuận lợi để bị từ bỏ ma túy. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng mức khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt là phù hợp.

. Theo lời khai của bị cáo số Heroine mà bị cáo có được là bị cáo mua của một người đàn ông nhưng không biết rõ họ tên, địa chỉ của người này ở đâu nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Đối với Giàng A S, Chang Sáy P đã mua heroine của bị cáo và đã sử dụng hết nên không có cơ sở để xác định khối lượng heroine S và P đã mua nên không có căn cứ để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Công an huyện M đã quyết định xử phạt hành chính đối với S và P về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với 2 người đàn ông tên N và D cùng S đến nhà C khi mua ma túy. Số tiền S dùng mua ma túy do người đàn ông tên N đưa cho. Do S, C không biết rõ họ tên, địa chỉ của những người này nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Việc S cùng hai người đàn ông tên N và D sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Lý Giống C, nhưng do bị cáo không biết S, N và D sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà mình nên không xử lý C về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngoài lần mua ma túy của Lý Giống C như đã nêu ở trên, thì trước đó Giàng A S, Chang Sáy P đã mua ma túy của C nhiều lần. Nhưng trong quá trình điều tra không đủ cơ sở để làm rõ.

Những vấn đề trên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Xét về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối nghiện ma túy kinh tế khó khăn nên miễn không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251/BLHS.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm a,b,c khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,276 gam heroine còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định; 01 con dao nhọn; 01 lọ nhựa miệng lọ được nối với một ống tre; 01 bơm kim tiêm; 01 bật lửa ga. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng do bi cáo phạm tội mà có. Trả lại cho bị cáo số tiền 400.000 đồng (tiền bán lợn của gia đình của bị cáo).

. Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lý Giống C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 38, điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều

51/BLHS.

Xử phạt bị cáo Lý Giống C 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày quyết định tạm giữ (08/5/2018).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm a,b,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,276 gam heroine còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định; 01 con dao nhọn chiều dài: 30 cm, trong đó lưỡi dao dài 20 cm, có cán bằng gỗ dài 10 cm; 01 lọ nhựa miệng lọ được nối với một ống tre đường kính 1,5 cm, dài 15 cm, 1/3 ống nhựa được tính từ đáy lên có lỗ thủng được nối một ông tre nhỏ, trên đầu ống tre được nối một ống cứng; 01 bơm kim tiêm; 01 bật lửa ga màu đỏ. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có. Trả lại cho bị cáo số tiền 400.000 đồng (tiền bán lợn của gia đình của bị cáo). (Toàn bộ tang vật chứng và tài sản theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 10 giờ 00 phút, ngày 10/8/2018 giữa Công an huyện M, tỉnh Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Đ).

3.Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015; điểm điểm đ khoản 1 Điều 12 nghị quyết số: 326/2016 của UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

*Áp dụng Điều 331 và 333/BLTTHS, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/9/2018). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo những vấn đề có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ