vanban.org

Bản án 32/2018/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Bình Tuyên án 05/06/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Hoàng Tiến D, hủy bản án sơ thẩm số 11/2018/HSST ngày 27/02 - 01/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình . Chuyể n hồ sơ vụ á n cho Việ n ki ểm sát nhân dân huyện Tiề n Hải, tỉnh Thái Bình để điều tra lại theo thủ tu…

Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Tiến D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Tiến D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Hoàng Tiến D, hủy bản án sơ thẩm số 11/2018/HSST ngày 27/02 - 01/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình . Chuyể n hồ sơ vụ á n cho Việ n ki ểm sát nhân dân huyện Tiề n Hải, tỉnh Thái Bình để điều tra lại theo thủ tu…
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2018/HSPT
Ngày 05-6-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hà.

Các thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Phương Thảo.

Ông Trần Xuân Bằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2018/HSPT ngày 06 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo Hoàng Tiến Ddo có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 11/2018/HSST ngày 27/02-01/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bị cáo Hoàng Tiến D, sinh năm 1970 tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình;

Nơi cư trú: phố H, thị trấn T H, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: kỹ sư giao thông; trình độ văn hó a: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Hồng S, sinh năm 1939 và bà Phạm Thị N, sinh năm 1950; có vợ là Nguyễn Thị X, sinh năm 1976; có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết địn số 27-QĐ/UBKTHU ngày 17/01/2018 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Bị tạm giữ từ ngày 30/11/2017 đến ngày 09/12/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Tiến D: Ông Hoàng Anh Tuấn - Luật sư, Công ty Luật TNHH Biển Bắc thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội.(có mặt)

- Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

- Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1963; nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

- Ông Phan Thúc Đ, sinh năm 1976; nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện T tỉnh Thái Bình (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

- Anh Trương Văn Th, sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình (được trích xuất có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 30/11/2017, tại khu vực cầu Đông Quách thuộc địa phận xã Nam Hà, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, lực lượng Công an huyện Tiền Hải nghi ngờ Hoàng Tiến D có biểu hiện liên quan đến hoạt động tội phạm về ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện tại túi áo khoác bên phải đang mặc của D 01 ví da màu nâu bên trong có 01 gói nhỏ được gói giấy bạc màu trắng bên trong có chất bột dạng cục màu trắng, Dg khai nhận đó là ma túy D mua về để sử dụng. Công an huyện Tiền Hải đã lập biên bản quản lý và niêm phong vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang đồng thời đưa D về trụ sở Công an huyện Tiền Hải để giải quyết.

Cùng ngày 30/11/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Tiến D ở phố H, thị trấn T H, huyện T, tỉnh Thái Bình và chỗ ở của Trương Văn Th ở thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình nhưng không phát hiện thu giữ gì.

Tại Bản kết luận giám định số 469/KLGĐ-PC54 ngày 30/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định thu của Hoàng Tiến D là ma túy, loại Heroine (Hêrôin) có trọng lượng 0,1488 gam.

Ngày 06/02/2018, Hoàng Tiến D có đơn kiến nghị khẩn cấp gửi Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải với nội dung: Ngày 30/11/2017, Hoàng Tiến D gặp Th ở xã Nam Chính và nhờ Th mua hộ ma túy về sử dụng. Th đưa Hoàng Tiến D đến nhà D1 ở xã Nam Trung, khi đến cổng nhà D1, Hoàng Tiến D đưa cho Thuyên 100.000 đồng để Th vào mua. Sau khi mua xong, ra đường Th mở gói ma túy chia đôi và đưa cho Hoàng Tiến D một nửa, Th giữ lại một nửa. Hoàng Tiến D gói lại bỏ vào ví để về tổ chức sử dụng vì đã hẹn trước với lái xe của em bị cáo là Nguyễn Văn T ở Hà Nội. Khi về đến cầu Đông Quách có 08 người mặc thường phục bắt giữ và khám người Hoàng Tiến D tại ngoài đường. Trong thời gian tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tiền Hải, các điều tra viên không chấp nhận các lời khai thật của Hoàng Tiến D, bắt Hoàng Tiến D phải khai theo hướng của họ vì lý do họ đưa ra là nếu có khai ra sự thật thì những người kia cũng không nhận đặc biệt là D1 ở xã Nam Trung là người bán ma túy được Công an bảo kê nên không được phép khai. Hoàng Tiến D đề nghị điều tra làm rõ sự thật khách quan và xử lý hồ sơ đã bị làm sai lệch.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Hoàng Tiến D không khai và xuất trình bản tự khai với nội dung về việc buổi trưa ngày 30/11/2017 nhờ Thuyên mua ma túy của D1 nhà ở Nam Trung như nội dung đơn kiến nghị khẩn cấp ngày 06/02/2018. Nội dung bản tự khai còn nêu những việc làm sai lệch hồ sơ: Việc điều tra viên làm Hoàng Tiến D phải thay đổi lời khai giả tạo bắt đầu từ ngày 08/12/2017. Khi đó, cán bộ Tuấn nói Th không khai nhận và D1 nhà ở Nam Trung là người bán ma túy được Công an bảo kê, nên không được phép khai, do vậy Hoàng Tiến D phải làm theo; Hoàng Tiến D và Th là người nghiện ma túy và đều không có kinh tế, nên không có chuyện Hoàng Tiến D liên hệ với Th để mua đất; Công an sắp đặt để bắt Hoàng Tiến Dvà khám người không lập biên bản; không thể có và Hoàng Tiến D không thể nghĩ được chuyện vô lý là có người đàn ông đứng ở cánh đồng để bán ma túy. Hoàng Tiến D đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để làm đúng sự thật.

Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2017/HSST ngày 27/02-01/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình quyết định:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Hoàng Tiến D 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ đi thời gian đã tạm giữ từ ngày 30/11/2017 đến ngày 09/12/2017.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

* Ngày 12/3/2018, bị cáo Hoà ng Tiế n D kháng cáo toà n bộ bả n á n , đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc th ẩm hủ y á n sơ thẩ m để điề u tra lạ i , khở i tố ngườ i bá n ma tú y và để bả o vệ quyề n lợ i cho bị cá o. Vớ i cá c lý do sau:

- Tòa án sơ thẩ m cố ý bao che dung tú ng cho những vi phạ m tố tụng đặ c biệ t nghiêm trọ ng xâm phạ m nghiêm trọ ng đế n quyề n lợ i củ a bị cá o:

+ Về việ c bắ t ngườ i do cá c trinh sá t thự c hiệ n và họ đã chuẩ n bị lự c lượ ng

thì biết rõ diễn biến của việc bị cáo là m, nguồ n gố c m a tú y bị cá o mua củ a ai . Nhưng khi bị cá o khai ra ngườ i bá n ma tú y thì Tò a á n bá c bỏ . Việ c bắ t quả tang bị cáo D là không có căn cứ, biên bả n bắ t ngườ i không phả i do Công an huyệ n lậ p mà do ngườ i bắ t lậ p tạ i mộ t nhà dân gầ n đị a điể m bắ t, khám người không lập biên bản. Đây là nhữ ng vi phạ m nghiêm trọ ng , không có giá trị chứ ng cứ , nhưng Tò a á n vẫ n cho rằ ng có vi phạ m nhưng không nghiêm trọ ng , có dấu hiệu ban hành bản án trái pháp luật.

+ Trong quá trì nh điề u tra , điề u tra viên không thông bá o cho D biế t về việ c đã giá m đị nh và kế t quả giá m đị nh , đượ c Tò a á n bao che bằ ng việ c đã tố ng đạ t cho D Quyế t đị nh khở i tố bị can có nêu hà nh vi củ a D tàng trữ 01 gói Herôin có trọng lượ ng 0,1488 gam. D đề nghị xem xét lại kết luận giám định vì gói ma túy do Thuyên chia thà nh 2 phầ n không thể có khố i lượ ng như vậ y.

+ Trong quá trì nh điề u tra D bị Điều tra viên yêu cầu ký v ào bản cung trước và họ tự viết sau , tại phần giải thích quyền và nghĩa vụ không có chữ ký của D . Ngày 15/02/2018, D bị một số Điều tra viên đã điều tra vụ án yêu cầu vào Công an thị trấn Tiền Hải làm việc , yêu cầu D thay đổ i lờ i khai, hủy bỏ đơn kiến nghị khẩn cấ p đế n Việ n kiể m sá t là không đú ng vì vụ á n đã kế t thú c điề u tra.

- Tòa án sơ thẩm đã câu kết với Viện kiểm sát để bỏ lọt tội phạm , làm sai lệ ch hồ sơ vụ á n : Tại phiên tò a sơ thẩ m bị cá o khai có thể đưa đế n nhà D 1 ở xã Nam Trung là ngườ i đã bá n ma tú y cho bị cá o , nhưng Tò a á n và Việ n kiể m sá t vẫ n cho rằ ng bị cá o không biế t họ , năm sinh, đị a chỉ củ a ngườ i tên D 1 để không xử lý ngườ i bá n ma tú y cho bị cá o . Từ ngà y 06/02/2018, D đã cung cấ p thông tin rõ việ c bị cáo chuẩn bị ma túy để tổ chức sử dụng nhưng Tòa án sơ thẩm và Viện kiểm sát cố ý bá c bỏ để là m theo hồ sơ đượ c thu thậ p trá i phá p luậ t. Việ n trưở ng Việ n kiể m sát huyện Tiền Hải nhận đơn kiến nghị khẩn cấp của bị cáo D

ngày 06/02/2018 nhưng không giả i quyế t.

- Việ c thỏ a thuậ n mứ c á n để bỏ qua vi phạ m tố tụ ng : Trong khi chờ nghị á n và tuyên án, thẩ m phá n Chủ tọa phiên tòa sơ thẩm và Luật sư của bị cáo trao đổi tại hàng lang phòng xử , bị cáo có nghe được một phần và sau đó Luật sư trao đ ổi với bị cáo: Thẩ m phá n nói Điều tra viên và Kiểm sát viên đã hiểu rõ các vi phạm của họ, họ muốn bỏ qua, Thẩ m phá n sẽ xử bị cá o mứ c á n 01 năm tù vớ i điề u kiệ n Luậ t sư sẽ bỏ qua cá c vi phạ m củ a Điề u tra viên và Kiểm sát viên, không được tố cá o vi phạm tố tụng , bỏ lọt tội phạm trong vụ á n trướ c mà Thẩ m phá n đã xử . Nhưng bị cáo không đồng ý đánh đổi để bỏ qua sai phạm mà họ đã thực hiện xâm phạm nghiêm trọ ng đế n quyề n và lợ i í ch củ a bị cá o.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

* Bị cáo Hoà ng Tiế n D: Vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, bị cáo đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử phú c th ẩm hủ y á n sơ thẩ m để điề u tra lạ i , khở i tố ngườ i bá n ma túy và để bảo vệ quyền lợi cho bị cáo với các lý do như đã nêu trong đơn kháng cáo. Ngoài ra bị cáo D còn khai khi Dbị 08 người mặc thường phục bắt giữ thì có một người lột áo khoác của D đang mặc mang vào nhà một người dân cạnh đường (sau này D mới biết là nhà ông Đỗ Văn T), sau đó những người còn lại mới đưa D vào nhà ông T và nói thu của D 01 gói ma túy trong ví để trong túi áo khoác. Lúc bị bắt thì D không thấy có người làm chứng và cũng không biết ông T, ông Đ là ai. Khi đó Công an không lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong vật chứng, sau khi bị bắt khoảng 03 tiếng và đã bị đưa vào phòng giam giữ ở Công an huyện Tiền Hải thì Công an mới đưa cho D biên bản và phong bì niêm phong để D ký. Trong quá trình D bị tạm giữ tại Công an huyện Tiền Hải thì cán bộ điều tra, Điều tra viên đọc cho D ghi bản tự khai và cho D ký trước các biên bản hỏi cung sau đó mới ghi nội dung. Sau khi được tại ngoại từ ngày 09/12/2017 thì Cơ quan điều tra Công an huyện Tiền Hải không triệu tập D đến để lấy lời khai lần nào, chỉ một lần vào ngày 15/01/2018 là Công an yêu cầu D đến Công an thị trấn để làm việc, D không được đọc nội dung biên bản làm việc, chỉ ký vào cuối biên bản. Còn các bản tự khai đề ngày 18/12/2017 trong hồ sơ và các biên bản hỏi cung ngày 18/12/2017, ngày 25/12/2017 và ngày 28/12/2017 mà Hội đồng xét xử đã cho bị cáo xem tại phiên tòa thì D thừa nhận chữ ký trong bản tự khai là của D còn chữ viết không phải của D, còn các biên bản hỏi cung là do Điều tra viên đưa cho D ký trước khi còn đang bị tạm giữ. Ngay tại phiên tòa sơ thẩm D đã trình bày có thể dẫn cơ quan tố tụng đến nhà D ở Nam Trung là người đã bán ma túy nhưng không được Tòa án chấp nhận. Bị cáo D không biết họ và tên đệm, địa chỉ cụ thể nhưng biết rõ nhà người đàn ông tên D1 đã bán ma túy cho bị cáo và Th ở ngay mặt đường liên xã đầu xã Nam Trung tiếp giáp với xã Tây Tiến, có mẹ tên là Mai và có 01 con gái, đã ly hôn vợ. Còn ngày 30/11/2017 mục đích bị cáo D nhờ Thuyên mua Hêrôin của D1 ở Nam Trung để tổ chức sử dụng với Nguyễn Văn Tlà lái xe của em trai D (Là luật sư Hoàng Anh Tuấn đang bào chữa cho bị cáo). Trước đó, bị cáo D cũng đã có lần mua ma túy về tổ chức cho Tsử dụng tại nhà D, Tkhông phải là người nghiện ma túy.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình có quan điể m như sau:

- Về khá ng cá o cho rằ ng Tò a á n sơ thẩ m vi phạ m nghiêm trọ ng thủ tụ c tố

tụng xâm phạm đến quyền lợi của bị cáo:

+ Về việc kháng cáo vi phạm việc bắt người: Theo quy đị nh củ a khoả n 1 Điề u 82 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự năm 2003, các trinh sát của Công an huyện Tiền Hải phát hiện Hoàng Tiến Dcấ t giấ u ma tú y trong ngườ i nên tiế n hà nh bắ t là có căn cứ , không vi phạ m. Sau đó đã phố i hợ p vớ i Công an xã Nam Hà và mờ i hai ngườ i là ông Đỗ Văn T , ông Phan Thú c Đ chứ ng kiế n việ c lậ p Biên bả n bắ t ngườ i phạ m tộ i quả tang, quản lý và niêm phong vật chứng tại nhà ông Đỗ Văn T. Việ c lậ p biên bản bắt người phạm tội quả tang là chưa đúng về đị a điể m, nhưng không phả i là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì nội dung trong biên bản bắt người phạm tội quả tang đã phản ánh rõ việc D cấ t giấu trái phép chất ma túy ở trong ví da màu nâu trong tú i á o khoác bên phải D đang mặ c. Trong biên bả n đã thể hiệ n và có đầ y đủ chữ ký củ a ngườ i lậ p biên bả n là ông Phạ m Anh Tuấ n là cá n bộ Công an huyệ n Tiề n Hả i, đạ i diệ n chí nh quyề n đị a phương là ông Vũ Ngọ c Yế n - Trưở ng Công an xã Nam Hà , đã có đầ y đủ lờ i khai , chữ ký củ a ngườ i bị bắ t là Hoà ng Tiế n D , 02 ngườ i là m chứ ng là ông Đỗ Văn T và ông Phan Thúc Đ . Vậ t chứ ng th u giữ củ a Hoàng Tiến D đã đượ c lậ p biên bả n quả n lý và niêm phong, có đầy đủ chữ ký của nhữ ng ngườ i trên và 05 dấ u niêm phong củ a chí nh quyề n đị a phương . Vì vậy, các biên bả n tố tụ ng trong vụ á n này không phải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

+ Về kháng cáo khám người không lập biên bản: Trong vụ á n , Công an huyệ n Tiề n Hả i thu ma tú y củ a Hoà ng Tiế n D khi bắ t. Nhưng tài liệu trong hồ sơ chưa thể hiện gói ma túy đó do bị cáo tự giác giao nộp hay Công an thu khi tiến hành khám xét Hoàng Tiến D. Vì vậy chưa đủ căn cứ kết luận Công an khám người D nhưng không lập biên bản là chưa đủ căn cứ cần phải làm rõ.

+ Về việ c không thông bá o cho Hoà ng Tiế n D biế t kế t luậ n giá m đị nh : Bị cáo bị bắt ngày 30/11/2017 khi đó Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự năm 2003 vẫ n đang có hiệ u lự c thi hà nh. Trong đó Điề u 158 quy đị nh: “1. Sau khi đã tiế n hà nh giá m đị nh, nế u bị can , nhữ ng ngườ i tham gia tố tụ ng khá c yêu cầ u thì cơ quan đã tr ưng cầ u giám định phải thông báo cho họ về nội dung kế t luậ n giá m đị nh ”, Điề u 49 quy đị nh về quyề n củ a bị can cũ ng không quy đị nh bị can có quyề n đượ c nhậ n hoặ c thông bá o kế t luậ n giá m đị nh . Trong quá trì nh điề u tra , D không yêu cầ u đượ c thông bá o về nộ i dung kế t luậ n giá m đị nh. Nhưng tạ i Quyế t đị nh khở i tố bị can số 04 ngày 08/12/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải có nội dung khoả ng 12 giờ 10 phút ngày 30/11/2017, Công an huyệ n Tiề n H ải bắt quả tang Dcó hành vi tàng trữ trá i phé p 01 gói ma túy loại Hêrôin có khối lượng 0,1488 gam vớ i mụ c đí ch để sử dụ ng . Cùng ngày, Cơ quan Cả nh sá t điề u tra Công an huyệ n Tiề n Hả i đã lậ p biên bả n giao quyế t đị nh khở i tố bị can cho D . Trong quá trình điề u tra D cũng không có ý kiến gì về khối lượng Hêrôin mà bị cáo bị thu giữ. Cơ quan điề u tra và Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ n Tiề n Hả i đã giao Kế t luậ n điề u tra, Cáo trạng cho D , nhưng bị cá o cũ ng không có ý kiế n gì về khố i lượ ng Hêrôin trong kế t luậ n giá m đị nh . Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai không được giao kết luận điều tra còn Cáo trạng sau khi bị cáo nhận được thì bị cáo đã có đơn kiến nghị gửi Viện kiểm sát, vấn đề này cần điều tra làm rõ.

+ Về khố i lượ ng chấ t ma tú y : Trong quá trì nh lậ p biên bả n bắ t ngườ i phạ m tộ i quả tang đố i vớ i D còn có sự chứng kiến của ông Đỗ Văn T , ông Phan Thú c Đ. Quá trình điều tra, truy tố bị cá o đề u khai thu trong ví da mà u n âu để bên trong tú i áo khoác bên phải Dũng đang mặc có 01 gói được gói bằng giấy bạc màu trắng bên trong có chứ a chấ t bộ t mà u trắ ng dạ ng cụ c là ma tú y D mua về để sử dụ ng , không có lời khai nào về việc Th chia là m hai phầ n. Hơn nữ a gó i ma tú y nà y đã đượ c thu, quản lý, niêm phong và o phong bì thư đượ c dá n kí n , mặ t trướ c ghi thu củ a Hoà ng Tiế n D, mặ t sau có chữ ký củ a D , 02 ngườ i là m chứ ng và 05 dấ u củ a Công an xã Nam Hà và đượ c lập Biên bản quản lý niêm phong vật chứng (bút lục số 40). Tuy nhiên Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định thì ngoài nội dung như Biên bản quản lý niêm phong vật chứng còn có thêm nội dung: “Phong bì niêm phong ghi “M”…01 dấu của Trưởng Công an Vũ Ngọc Yến” (Bút lục 48). Nội dung này chưa được điều tra làm rõ.

+ Về việ c bị cá o cho rằ ng quá trì nh điề u tra bị cá o bị Điề u tra viên yêu cầ u ký vào bản cung trước và họ tự viết sau , tại phần giải thích quyền và nghĩa vụ không có chữ ký củ a bị cá o: Tài liệu trong hồ sơ thể hiện các biên bản ghi lời khai , biên bả n hỏ i cung bị can đề u có chữ ký củ a bị cáo D ở từng trang của biên bản, các trang biên bản còn trống đều được gạch chân . Không có tà i liệ u, chứ ng cứ nà o thể hiệ n việ c Điề u tra viên yêu cầ u bị cá o ký và o bả n cung trướ c và họ tự viế t sau

. Nhưng trong biên bả n hỏ i cung bị can chưa thự c hiệ n đú ng quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 131 Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự về việ c giả i thí ch bằ ng văn bả n cho bị can biế t rõ quyề n và nghĩ a vụ theo quy đị nh tạ i Điề u 49 Bộ luậ t Tố Tụ ng hì nh sự . Tuy nhiên tại biên bản hỏi cung bị can ngày 11/01/2018 Kiể m sá t viên đã hỏ i Hoà ng Tiế n D về việ c đã đượ c Cơ quan điề u tra giả i thí ch quyề n , nghĩa vụ và giao nhận đầy đủ văn bả n tố tụ ng chưa thì D trả lời đã được giải thích quyền , nghĩa vụ và giao nhận đầ y đủ văn bả n tố tụ ng . Tại phiên tòa phúc thẩm bị cá o khai tấ t cả cá c bả n tự khai đều do cán bộ điều tra và Điều tra viên đọc cho bị cáo ghi, các biên bản ghi lời khai và hỏi cung cán bộ điều tra , Điề u tra viên đề u đưa cho bị cá o ký trướ c sau đó mớ i viế t nộ i dung, từ khi được tại ngoại D không bị triệ u tậ p lầ n nà o đến trụ sở Công an huyệ n Tiề n Hả i để hỏ i cung . Nhưng bị cá o cũ ng không đưa ra đượ c căn cứ nà o chứ ng minh cho việ c cá n bộ điề u tra , Điề u tra viên đọ c cho bị cá o viế t hoặ c cho bị cáo ký vào bản cung trước sau đó mới viết nội dung.

+ Về việ c ngà y 15/02/2018, Công an huyệ n Tiề n Hả i yêu cầ u D vào Công an thị trấ n Tiề n Hả i là m việ c là do ngà y 09/02/2018, Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ n Tiề n Hả i chuyể n đơn kiế n nghị khẩ n cấ p củ a D đề ngày 06/02/2018 gử i Việ n kiể m sát nhân dân huyện Tiền Hải tố cáo Điều tra viên đã có những hành vi can thiệp làm sai lệch hồ sơ vụ án , làm trái sự thật khách quan đến Công an huyện Tiền Hải để giải quyết theo thẩm quyền theo quy định tại Điều 481 Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự năm 2015. Tại biên bản làm việc ngày 15/02/2018, do điề u tra viên (không phả i điề u tra viên điề u tra vụ á n) phố i hợ p vớ i Công an thị trấ n Tiền Hải và đại diện khu phố nơi bị cá o cư trú lậ p để xá c minh, làm rõ nội dung tố cáo của Hoàng Tiến D có nộ i dung: Trong suố t quá trì nh là m việ c vớ i cơ quan điề u tra, D không bị đá nh đậ p, ép buộc, mớ m cung, dùng nhục hình gì . Cơ quan điề u tra làm việc khách quan , đú ng quy đị nh . Trong quá trì nh bị tạ m giữ từ ngà y

30/11/2017 đến ngày 08/12/2017, D đều khai báo thành khẩn hành vi p hạm tộ i vớ i cá n bộ điề u tra , Điề u tra viên. Tấ t cả các bản tự khai , biên bả n ghi lờ i khai , hỏi cung bị can D đều khai báo thành khẩn và tự đọc lại công nhận là đúng . Cán bộ điều tra, Điề u tra viên đề u làm đúng quy định. Về nguồ n gố c số ma tú y củ a D bị thu giữ là do D nhờ Th ở xã Nam Chí nh mua hộ củ a D 1 ở xã Nam Trung . Mục đích mua về là để sử dụng . D viế t đơn kiế n nghị khẩ n cấ p là theo ý củ a em trai D . Như vậ y, việ c Công an huyệ n Tiề n Hả i là m việ c vớ i D vào ngày 15/02/2018 là khách quan , thự c hiệ n đú ng quy đị nh củ a Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự về giả i quyế t tố cá o , không phả i là triệ u tậ p D lên để lấy lời khai khi đã kết thúc điều tra, hay yêu cầ u bị cá o thay đổ i lờ i khai như đơn kiế n nghị khẩ n cấ p.

- Về kháng cá o Tò a á n sơ thẩ m đã câu kế t vớ i Việ n kiể m sá t để bỏ lọ t tộ i

phạm, làm sai lệch hồ sơ vụ án:

+ Về kháng cáo không xử lý người bán ma túy tên D1: Quá trình điều tra , truy tố bị cá o đề u không khai về ngườ i đà n ông tên D1 ở xã Nam Trung bán ma túy cho bị cá o và o ngà y 30/11/2017. Đế n khi hế t thờ i hạ n xé t xử và tạ i phiên tò a bị cá o mớ i có đơn kiế n nghị khẩ n cấ p ngày 06/02/2018 và bản tự khai trình bày dẫn đến nhà ngườ i đà n ông tên D 1 ở xã Nam Trung bán ma túy cho bị cáo vào ngày 30/11/2017. Nhưng bị cáo không biết họ, tên đem, năm sinh, đị a chỉ cụ thể của người đàn ông tên D1 này. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2018/HSST ngày 01/3/2018 Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải đã kiến nghị với Cơ quan điều tra Công an huyện Tiền Hải, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải để điều tra làm rõ. Ngày 23/4/2018 Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải ban hành công văn số 460 đề nghị Cơ quan điều tra Công an huyện Tiền Hải tiến hành xác minh, điều tra làm rõ hành vi của người đàn ông tên D1 ở xã Nam Trung. Thự c hiệ n kiế n nghị củ a Tò a án, Cơ quan Cả nh sá t điề u tra Công an huyệ n Tiề n Hả i đã tiế n hà nh xá c minh và có Công văn số 02 ngày 27/4/2018 vớ i nộ i dung: Công an xã Nam Trung cung cấ p căn cứ sổ quả n lý nhân khẩ u, hộ khẩ u thì tạ i đị a bàn xã Nam Trung có 59 ngườ i tên D1 từ tuổ i 18 - 50, nhưng chưa xá c đị nh đượ c ai là ngườ i bá n ma tú y cho Hoà ng Tiế n D. Ngày 23/4 và ngày 25/4/2018, Cơ quan điề u tra Công an huyệ n Tiề n Hả i đã có 02 giấ y mờ i yêu cầ u Hoà ng Tiế n D đến làm việc để ghi lời khai xác minh thông tin về việ c mua ma tú y củ a ngườ i tên D ở xã Nam Trung . Hai giấ y mờ i nà y đã đượ c Công an thị trấ n Tiề n Hả i giao cho bố đẻ củ a D vì D không có mặ t tạ i đị a phương từ ngà y 15/3/2018, khi đi không bá o chí nh quyề n đị a phương . Vì vậy Công an huyệ n Tiề n Hả i không có căn cứ xá c đị nh ai là ngườ i có tên D1 ở xã Nam Trung đã ma tú y cho D ngày 30/11/2017. Do đó không có căn cứ về việ c bị cá o D kháng cáo cho rằ ng Tò a á n đã câu kế t vớ i Việ n kiể m sá t để bỏ lọ t tộ i phạ m.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo D khai: D nhờ Trương Văn Th mua hộ ma túy, Thuyên đã dẫn D đến nhà D1 ở xã Nam Trung có mẹ tên là Mai nên gọi là D1 Mai, đến nơi D đứng ngoài còn Th vào nhà D1 mua ma túy. D biết rõ tên, địa chỉ và D1 dẫn đến nhà được, nhà D1 Mai ở ngay mặt đường liên xã đầu xã Nam Trung tiếp giáp với xã Tây Tiến. Trương Văn Th khai không lần nào mua ma túy cho D. Đây là những tình tiết mới phát sinh cần phải điều tra làm rõ.

+ Không làm rõ việc bị cáo chuẩn bị ma túy để tổ chức sử dụng như thông tin bị cáo cung cấp: Trong giai đoạn điều tra, truy tố D đều khai bị b ệnh gú t nên phải mua ma túy về sử dụng cho đỡ đau , ngày 30/11/2017 bị cáo đi mua ma túy về sử dụ ng cho bả n thân thì bị Công an bắ t quả tang khi đang cất giấu ma túy trong người. Ngày 06/02/2018, bị cáo D có đơn kiến nghị khẩn cấp gửi Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyệ n Tiề n Hả i , bị cáo cho rằng việc bị cáo đi mua ma túy về là để tổ chức sử dụng cùng với T ở Hà Nội là lái xe của em bị cáo như đã hẹn trước . Lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng trong bản án lại kiến nghị với Cơ quan điều tra Công an huyện Tiền Hải, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải điều tra làm rõ là chưa đúng quy định tại Điều 264 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo D khai: Mục đích mua ma túy về để tổ chức sử dụng với Nguyễn Văn T ở Hà Nội là lái xe của em trai bị cáo (là Luật sư Hoàng Anh Tuấn) như đã hẹn trước với T. Cấp sơ thẩm chưa điều tra làm rõ việc D cất giấu ma túy để sử dụng như thế nào với người tên T (đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể ngườ i khác hay cung cấp trái phép chất ma túy cho người khác để họ sử dụng trái phép). Người tên T có phải là người nghiện ma túy không chưa được làm rõ. Cấp phúc thẩm không bổ sung được.

+ Việ c Việ n trưở ng Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ n Tiề n Hải nhận được đơn kiế n nghị khẩ n cấ p ngày 06/02/2018 của bị cáo D có nội dung tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của điều tra viên thuộc Cơ quan điều tra Công an huyện Tiền Hải . Vì vậy Viện kiểm sát chuyển đơn cho Cơ quan điều tra Công an huyện Tiền Hải giải quyết là đúng với quy đị nh củ a Điề u 481 Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự năm 2015.

- Về kháng cáo thỏa thuận mức án để bỏ qua vi phạm tố tụng: Mặ c dù bị cá o kháng cáo Thẩm phán thỏa thuận mức án để bỏ qua vi phạm tố tụng, nhưng sau khi kháng cáo , cũng như quá trình giải quyết vụ án theo trình tự ph

úc thẩm bị cáo không cung cấ p tà i liệ u chứ ng cứ nà o chứ ng minh cho việ c Thẩ m phá n trao đổ i vớ i luậ t sư củ a bị cá o để thỏ a thuân mứ c á n.

Vớ i cá c phân tí ch nêu trên , đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân tỉnh Thái Bình thấ y: Việc chưa điều tra làm rõ Trương Văn Thcó mua ma túy của D1 ở xã Nam Trung cho Hoàng Tiến D hay không. D cất giấu ma túy để sử dụng như thế nào với người tên T, người tên T có nghiện ma túy không chưa được làm rõ, hành vi của D là đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác hay cung cấp trái phép ma túy cho người khác để họ sử dụng trái phép, cấp phúc thẩm không bổ sung được. Từ những phân tích nêu trên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Hoàng Tiến D, hủy án bản án sơ thẩm số 11/2018/HSST ngày 01/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải để điều tra lại.

*Người bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm bào chữa:

Đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục chung. Nhưng không đồng ý với quan điểm của Kiểm sát viên về các vấn đề sau:

- Vi phạm về việc bắt người phạm tội quả tang: Việc Viện kiểm sát cho rằng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang sai địa điểm là không đúng nội dung quy định của điều luật, mà phải xác định cơ quan nào có quyền lập biên bản. Căn cứ bắt Hoàng Tiến D là không đúng quy định, người bắt lập biên bản bắt người phạm tội quả tang là trái pháp luật.

- Vi phạm về việc khám người: Việc khám người D đã được thực hiện, thể hiện rõ trong bản khai của ông T, ông Đ, Kết luận điều tra xác định: “Thu giữ trong ví da trong túi áo khoác…”. Thế nhưng không được lập biên bản theo luật định, không rõ ai khám, có đủ thẩm quyền không. Vi phạm này ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính khách quan của vụ án.

- Không thu thập chứng cứ từ những người thực hiện việc bắt: Tại phiên tòa sơ thẩm đã xác định được 08 người bắt D, bao gồm các Trinh sát và Điều tra viên . Sau xét xử sơ thẩm, Công an huyện Tiền Hải xác định là Tổ kiểm tra hành chính. Theo luật định, dù họ là ai thì cũng phải thu thập chứng cứ để làm rõ sự thật, cụ thể họ đã làm gì, làm như thế nào?

- Vi phạm về quản lý, niêm phong vật chứng: Theo quy định tại Điều 75 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định về người có thẩm quyền lập biên bản quản lý và niêm phong vật chứng. Người có tên Ngô Duy Thiêm ghi trong Biên bản niêm phong (Bút lục 40) chính là người trong nhóm 08 người bắt D, do vậy không có thẩm quyền thực hiện hoạt động quản lý niêm phong vật chứng. Nghiêm trọng hơn, tất cả những người tham gia niêm phong vật chứng đều nói phong bì niêm phong có chữ ký của tôi và những người liên quan. Đây là điều giả tạo, bởi lẽ người ký đầu tiên vào phong bì thì khi đó phong bì chưa có chữ ký của ai.

- Vi phạm về giao mẫu vật giám định: Điều 27 Luật giám định tư pháp quy định giao nhận hồ sơ, đối tượng trưng cầu, yêu cầu giám định. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án không thể hiện có việc giao nhận, không có biên bản giao nhận, đặc biệt nghiêm trọng là có sự sai biệt giữa mẫu đối tượng giám định ghi trong quyết định trưng cầu giám định (bút lục 45) và mẫu giám định mô tả trong Biên bản mở niêm phong (Bút lục 48). Cụ thể, trong quyết định ghi phong bì có chữ ký của D và những người liên quan, không rõ bao nhiêu người, bao gồm những ai; Biên bản mở niêm phong ghi số chữ ký của những người cụ thể. Như vậy, mẫu giám định theo quyết định và mẫu thực tế giám định khác nhau, vi phạm đặc biệt nghiêm trọng.

- Vi phạm về việc không thông báo kết luận giám định: Tại phiên tòa sơ thẩm, Điều tra viên trình bày chưa bao giờ thông báo cho bị can về việc giám định và có kết luận giám định. Việc này được Thẩm phán bao biện bằng việc tại Quyết định khởi tố có nêu bị can tàng trữ 0,1488 gam Hêrôin. Tại phiên tòa, bị cáo D khẳng định rõ gói ma túy do Thuyên chia thành 02 phần không thể có khối lượng như giám định và đề nghị xem xét lại, tuy nhiên Tòa án vẫn cố ý bỏ qua.

- Vi phạm về việc làm sai lệch hồ sơ vụ án: Lời khai của D và Th đều bị sửa chữa, làm sai lệch hồ sơ, cụ thể các biên bản hỏi cung đều kết thúc bằng câu “Tôi không khai gì thêm…chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Tuy nhiên, tại bút lục 52 lời khai của Th, sau câu kết thúc và có gạch phần trống thì được thêm nội dung và lại tiếp tục cam đoan chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tương tự, tại bút lục số 84 bản cung của D ngày 18/12/2017 có hai lần cam đoan, sau lần cam đoan lần thứ nhất lại có thêm câu hỏi và câu trả lời mấu chốt và tiếp tục cam đoan. Có dấu hiệu cố ý sửa chữa, làm sai lệch hồ sơ.

- Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định, khi cơ quan điều tra triệu tập D hoặc Th lấy lời khai thì bắt buộc phải có giấy triệu tập, tương đương với từng lần lấy lời khai, nhưng trong hồ sơ không có giấy triệu tập của cơ quan điều tra.

- Khi D thực hiện tố cáo, nhưng các cơ quan tố tụng đưa biên bản làm việc giải quyết tố cáo ngày 15/02/2018 vào hồ sơ vụ án để làm căn cứ là trái quy định của pháp luật về giải quyết tố cáo.

- Về việc bỏ lọt tội phạm: Dấu hiệu bỏ lọt tội phạm là có, vì vậy Hội đồng xét xử sơ thẩm đã biểu quyết kiến nghị Viện kiểm sát, Công an huyện Tiền Hải làm rõ người bán ma túy cho bị cáo D là trái pháp luật, đáng lẽ phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Từ những lý do nêu trên, người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.

* Bị cáo Hoàng Tiến D nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không bổ sung gì thêm quan điểm bào chữa. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử phúc thẩm hủy án sơ thẩm để điều tra lại.

Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, ngườ i bà o chữ a.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

Về việ c đề nghị t riệ u tậ p ngườ i tham gia tố tụ ng tạ i phiên tò a sơ thẩ m : Ngườ i bà o chữ a cho bị cá o có đơn đề nghị triệ u tậ p ngườ i tham gia tố tụ ng sau khi Tòa án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa tiếp tục đề nghị Hội đồ ng xé t xử hoã n phiên tò a để triệ u tậ p Kiể m sá t viên đã tiế n hà nh tố tụ ng tạ i cấ p sơ thẩ m, thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm , Trưở ng Công an xã Nam Hà , nhữ ng ngườ i là m chứ ng là ông Đỗ Văn T , ông Phan Thú c Đ và Trương Văn Th để tham gia tố tụ ng tạ i phiên tò a phú c thẩ m. Xét thấy, theo quy đị nh tạ i Điề u 351 Bộ luậ t Tố tụng hình sự năm 2015 thì những người tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm , Trưở ng Công an xã Nam Hà không phả i là n hữ ng ngườ i bắ t buộ c phả i có mặ t để tham gia tố tụ ng tạ i phiên tò a hì nh sự phú c thẩ m . Nhữ ng ngườ i là m chứ ng là ông T , ông Đ đều có đơn đề nghị xin vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm và đều xác nhận việc khai báo tại Cơ quan điều tra là đúng sự thật , đơn đề nghị củ a ông T và ông Đ đều có xác nhận của chính quyền địa phương . Còn người làm chứng Trương Văn Th đã đượ c Tò a á n trí ch xuấ t có mặ t tạ i phiên tò a . Vì vậy, Hộ i đồ ng xé t xử không có căn cứ để hoã n phiên tò a theo đề nghị củ a ngườ i bà o chữ a cho bị cá o , mà tiếp tục xét xử vụ á n là đú ng vớ i quy đị nh củ a Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự .

Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hoàng Tiến D: Bị cáo kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm để điều tra lại với nhiều lý do, trong đó có lý do cho rằng Tòa án sơ thẩm đã câu kết với Viện kiểm sát để bỏ lọt tội phạm , làm sai lệ ch hồ sơ vụ á n . Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy quá trình điều tra ban đầu bị cáo D khai nhờ Thđi mua hộ ma túy, sau đó thay đổi lời khai mua ma túy của một người đàn ông khoảng 40 tuổi ở khu vực cánh đồng xã Nam Chính. Sau khi Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo D mới có đơn kiến nghị khẩn cấp đề ngày 06/02/2018 và bản tự khai trình bày tại phiên tòa là Th dẫn đến nhà ngườ i đà n ông tên D 1 ở xã Nam Trung mua ma tú y cho bị cáo vào ngày 30/11/2017, nhưng bị cáo cũng không biết họ, năm sinh và đị a chỉ cụ thể củ a người đàn ông tên D 1 nêu trên. Mục đích bị cá o đi mua ma tú y về là để tổ chứ c sử dụ ng cù ng vớ i T ở Hà Nội là lái xe của em bị cáo như đã hẹn trước . Khi kháng cáo bị cáo D khẳng định đã khai tại phiên tòa sơ thẩm có thể đưa đến nhà D1 bán ma túy, nhưng Hộ i đồ ng xé t xử và Kiể m sá t viên không chấ p nhậ n . Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo D khai biết rõ nhà người đàn ông tên D1 đã bán ma túy cho bị cáo và Th ở ngay mặt đường liên xã đầu xã Nam Trung tiếp giáp với xã Tây Tiến, có mẹ tên là Mai và có 01 con gái, đã ly hôn vợ. Còn ngày 30/11/2017 mục đích bị cáo D nhờ Th mua Hêrôin của D1ở xã Nam Trung để tổ chức sử dụng với Nguyễn Văn T là lái xe của em trai Dũng (Là luật sư Hoàng Anh Tuấn đang bào chữa cho bị cáo). Trước đó, bị cáo D cũng đã có lần mua ma túy về tổ chức cho T sử dụng tại nhà D, T không phải là người nghiện ma túy. Xét thấy, đáng lẽ Tòa án cấp sơ thẩm phải căn cứ vào điểm c khoản 6 Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra làm rõ đối tượng tên D1 ở xã Nam Trung mà bị cáo khai có thể đưa đến tận nhà có phải là người bán ma túy cho Th như bị cáo D khai không; để tiến hành đối chất giữa bị cáo D, Th và người đàn ông tên D1 ở xã Nam Trung xem có việc mua bán ma túy như bị cáo khai để có chứng cứ xác định có việc đồng phạm trong việc đi mua ma túy giữa bị cáo D và Th không; để điều tra làm rõ có sự hứa hẹn về việc chuẩn bị chất ma túy của bị cáo để tổ chức cho người tên T (Theo Công ty Luật TNHH Biển Bắc cung cấp cho Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải tại công văn số 2012/2018/CV-BB ngày 21/02/2018 là Nguyễn Văn T, địa chỉ: số 18, khu H, phường H C, quận H, Thành phố Hà Nội) sử dụng trái phép không? Nếu có thì bị cáo và người tên Tuân định tổ chức sử dụng ma túy bằng hình thức như thế nào, người tên Tuân có phải đối tượng nghiện ma túy hay không liên quan đến việc xác định tội danh của bị cáo D. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ kiến nghị trong bản án đề nghị Cơ quan điề u tra Công an huyệ n Tiề n Hải tiến hành xác minh , điề u tra là m rõ hà nh vi củ a ngườ i đà n ông tên D 1 ở xã Nam Trung là không đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, tuy người làm chứng là anh Trương Văn Th chỉ khai trưa ngày 30/11/2017, D có đến nhà Th nhờ mua ma túy nhưng Th từ chối vì không biết chỗ để mua, sau đó D ra về, Th không biết D1 nhà ở Nam Trung là ai. Nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy cấp sơ thẩm chưa điều tra đầy đủ về đối tượng bán ma túy cho bị cáo D, chưa tiến hành đối chất giữa bị cáo D với Trương Văn Th và người đàn ông tên D1 ở xã Nam Trung để có chứng cứ xác định có việc đồng phạm trong việc đi mua ma túy giữa bị cáo D và Th không; chưa điều tra làm rõ có sự hứa hẹn về việc chuẩn bị chất ma túy của bị cáo D để tổ chức cho Nguyễn Văn T sử dụng không, nếu có thì bị cáo D và T định tổ chức sử dụng ma túy bằng hình thức như thế nào, T có phải đối tượng nghiện ma túy hay không liên quan đến việc xác định tội danh của bị cáo D. Đây là trường hợp việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Vì vậy, trên cơ sở nội dung yêu cầu kháng cáo của bị cáo, đề nghị của Kiểm sát viên và quan điểm của người bào chữa cho bị cáo , Hộ i đồ ng xé t xử phú c thẩ m nhậ n thấ y cần phải chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục chung.

Mặt khác, xét thấy theo tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n thể hiệ n tại Biên bản quản lý và niêm phong vật chứng ngày 30/11/2017 (bút lục số 40) không có ký hiệu niêm phong vật chứng thu giữ của Hoàng Tiến D, nhưng trong Quyết định trưng cầu giám định số 02 ngày 30/11/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải lại yêu cầu giám định gói chất bột màu trắng niêm phong ký hiệu M; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định ngày 30/11/2017 thể hiệ n tình trạng đối tượng giám định: “Phong bì niêm phong ghi: M; vật chứng thu giữ của Hoàng Tiến D…”; nội dung này cũng cần phải được điề u tra làm rõ.

Xét thấy, trong nộ i dung khá ng cá o củ a bị cá o có tố cáo về hành vi tố tụng của Điề u tra viên đã có nhữ ng hà nh vi can thiệ p là m sai lệ ch hồ sơ vụ á n , trong quá trì nh xé t xử ở cấ p sơ thẩ m đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Tiền Hải giải quyết theo quy đị nh củ a Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự . Về việ c bị cá o khá ng cá o Thẩm phán Chủ tọ a phiên tò a c ấp sơ thẩm không làm việc với hai Hội thẩm nhân dân và thỏa thuận mức án để bỏ qua vi phạm tố tụng, Hội đồng xét xử thấy: Biên bản nghị án của Hội đồng xét xử sơ thẩm có trong hồ sơ vụ án thể hiện đầy đủ nội dung cần phải giải quyết trong vụ án và biểu quyết của Hội đồng xét xử theo quy định của Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Mặ c dù khá ng cá o về nộ i dung nà y, nhưng sau khi kháng cáo, cũng như quá trình giải quyết vụ án theo trình tự phú c thẩ m bị cá o không cung cấ p tà i liệ u chứ ng cứ nà o chứ ng minh cho việ c Thẩ m phá n không nghị án cùng hai Hội thẩm nhân dân và trao đổ i vớ i luậ t sư củ a bị cáo để thỏa thuận mức án; người bào chữa cho bị cá o cũ ng có đơn tố cá o về việ c Thẩm phán Chủ tọ a phiên tò a cấ p sơ thẩ m trong thời gian nghị án không làm việc với hai Hội thẩm nhân dân và thỏa thuận mức án với người bào chữa của bị cáo D đã được Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình trả lời là không có căn cứ theo công văn số 853/TA ngày 22/5/2018.

Đối với các yêu cầ u khá ng cá o khá c củ a bị cá o Hoà ng Tiế n D và đề nghị của ngườ i bà o chữ a về việ c trưng cầ u giá m đị nh Biên bả n hỏ i cung đối vớ i Hoà ng Tiế n D ngày 18/12/2017 tại bút lục số 84 có trong hồ sơ vụ án vì nghi ngờ có dấu hiệ u Điề u tra viên tự mì nh thêm câu hỏ i và câu trả lời của bị can . Xét thấy, do đã hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét , các vấn đề này sẽ được giải quyết trong quá trình điều tra lại vụ án.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Hoàng Tiến Dđược chấp nhận một phần, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Hoàng Tiến D, hủy bản án sơ thẩm số 11/2018/HSST ngày 27/02 - 01/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình . Chuyể n hồ sơ vụ á n cho Việ n ki ểm sát nhân dân huyện Tiề n Hải, tỉnh Thái Bình để điều tra lại theo thủ tụ c chung.

2. Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hoàng Tiến D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 05/6/2018./

Cỡ chữ