vanban.org

Bản án 32/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bình Long, tỉnh Bình Phước Tuyên án 29/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 5 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/02/2018. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH LONG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2018/HS-ST
Ngày: 29/6/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Dung

Ông Nguyễn Thanh Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tân Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Phạm Ngọc Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2018 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thị xã Bình Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2018/HSST ngày 21/5/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2018/QĐXXST-HS ngày 18/6/2018, đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T, sinh năm 1985, đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Tổ 7, ấp HP, xã TH, huyện HQ, tỉnh Bình Phước; chỗ ở: Tổ 3, khu phố PN, phường PĐ, thị xã BL, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tiện và bà Đỗ Thị Xê; có vợ là Đinh Thị L và ba con; tiền án; không, tiền sự: không; nhân thân: ngày 22/5/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; bị bắt từ ngày 02/02/2018 bị tạm giữ và tạm giam tới nay. Có mặt

Người làm chứng:

- Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1990, HKTT: Số 460, khóm 3, phường 6, thành phố TV, tỉnh Trà Vinh, Chỗ ở: Tổ 3, khu phố PN, phường PĐ, thị xã BL, tỉnh Bình Phước; (vắng mặt)

- Đinh Thị L (tức Út), sinh năm 1987, trú tại: Tổ 7, Ấp HP, xã TH, huyện HQ, tỉnh Bình Phước; (có mặt)

- Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1966, trú tại: Tổ 3, khu phố PN, phường PĐ, thị xã BL, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 02/02/2018, lực lượng phòng chống ma túy thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Bình Long phối hợp Công an phường Phú Đức kiểm tra phát hiện Nguyễn Minh T đang cất giữ ma túy tại nơi ở là nhà trọ thuộc tổ 03, khu phố PN, phường PĐ, thị xã BL do T thuê của bà Nguyễn Thị Bích N nên tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và tạm giữ các tang vật, gồm:

- 01 bịch nylon có chứa hạt tinh thể bên dưới tấm nệm (đã niêm phong);

- 02 bịch nylon có chứa hạt tinh thể để trong hộp nhựa để tại khe hở vách tôn trên cửa sổ (đã niêm phong);

- 01 bật lửa gaz màu đỏ; 01 bình gaz hiệu Namilux; 02 bình thủy tinh có gắn 02 nỏ thủy tinh (ống) cao 20 cm và 16 cm; 02 bình thủy tinh cao 12,5 cm và 27 cm.

Nguyễn Minh T khai nhận bản thân T nghiện ma túy và có quen biết Quý (không rõ nhân thân), Quý cho T số điện thoại của người tên Pha (không rõ nhân thân) ở khu vực quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 19 giờ ngày 01/2/2018, T điện thoại cho Pha hỏi mua 8.000.000đ (tám triệu đồng) ma túy tổng hợp dạng ma túy đá, Pha hẹn giao ma túy cho T tại thị xã Bình Long. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 02/02/2018, Quý đến nơi ở của T thuộc khu phố PN, phường PĐ, thị xã BL đưa 02 bịch ma túy cho T và nói là do Pha giao, T trả cho Quý 8.000.000đ (tám triệu đồng), sau đó T lấy một ít ma túy sử dụng chung với Quý, sau khi sử dụng ma túy Quý ra về. Đến khoảng 07 giờ sáng cùng ngày, T tiếp tục lấy một ít ma túy sử dụng chung với bạn gái tên Nguyễn Thị Kiều T. Số ma túy còn lại T phân chia ra nhiều bịch rồi cất giấu thì bị phát hiện bắt giữ.

Tại bản Kết luận giám định số 41/2018/GĐKTHS ngày 06/2/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước, kết luận:

- Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,5072 (không phẩy năm không bảy hai) gam, loại Methamphetamin.

- Tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là: 8,8403(tám phẩy tám bốn không ba) gam, loại Methamphetamin.

* Bản Cáo trạng số 19/CT-VKSBL ngày 21 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước truy tố Nguyễn Minh T (tức Tuấn Anh) về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Kiểm sát viên luận tội bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng, đề nghị:

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù;

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy:

- Hai mẫu vật sau giám định được niêm phong có khối lượng M1=0,3071 gam, M2=8,2806 gam là chất ma túy cấm lưu hành;

- Các đồ vật tài sản tạm giữ trong lúc bắt quả tang gồm: 01 bật lửa gaz màu đỏ; 01 bình gaz Namilux; 02 bình thủy tinh có gắn 02 nỏ thủy tinh (ống) cao 20 cm và 16 cm; 02 bình thủy tinh cao 12,5 cm và 27 cm, liên quan đến việc sử dụng ma túy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình Điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các chứng cứ tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập; các tài liệu chứng cứ do bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về chứng cứ. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa Nguyễn Minh T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, Biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập về thời gian địa điểm và cách thức thực hiện tội phạm, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Minh T cất giữ một lượng ma túy tổng hợp (Methamphetamine) có trọng lượng 9,3475 gam tại nhà trọ nơi T thuê trọ ở tổ 3 khu phố PN, phường PĐ, thị xã BL, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Bình Long bắt quả tang vào trưa ngày 02/02/2018. Hành vi này của T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự. Với trọng lượng chất ma túy tàng trữ là 9,3475 gam thì Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long truy tố T theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về ma túy của nhà nước. Bị cáo có đủ nhận thức để biết ma túy là chất mà nhà nước cấm mua bán, sử dụng; bị cáo cũng biết sử dụng ma túy là tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tổn hại tiền bạc và gây nhiều hệ lụy xấu cho xã hội nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, mua ma túy về cất giữ để sử dụng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy cần thiết phải xét xử bị cáo với mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo đã từng phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, bị Tòa án xét xử vào năm 2017. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân, trở thành người công dân tốt mà ngược lại bị cáo lại sa vào con đường nghiện ngập và hậu quả là tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về Nguồn gốc ma túy T khai mua của người tên Pha và do Quý trực tiếp giao cho T. Nhưng hiện nay không làm rõ được nhân thân lai lịch của Pha và Quý nên không có cơ sở xử lý.

Đối với Nguyễn Thị Kiều T, có hành vi sử dụng ma túy trái phép. Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính.

Xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ sau giám định được niêm phong có khối lượng M1=0,3071 gam, M2=8,2806 gam là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; Các đồ vật tạm giữ trong lúc bắt quả tang gồm: 01 bật lửa gaz màu đỏ; 01 bình gaz hiệu Namilux; 02 bình thủy tinh có gắn 02 nỏ thủy tinh (ống) cao 20 cm và 16; 02 bình thủy tinh cao 12,5cm và 27 cm là đồ vật để bị cáo dùng vào việc sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Án phí, Lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 5 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/02/2018.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy hai mẫu vật là ma túy giám định được niêm phong, có khối lượng M1=0,3071 gam, M2=8,2806 gam;

- Tịch thu tiêu hủy các đồ vật mà bị cáo T dùng vào việc sử dụng ma túy, đã thu giữ trong lúc bắt quả tang gồm: 01 bật lửa gaz màu đỏ; 01 bình gaz hiệu Namilux; 02 bình thủy tinh có gắn 02 nỏ thủy tinh (ống) cao 20 cm và 16; 02 bình thủy tinh cao 12,5 cm và 27 cm.

(theo biên bản bàn giao vật chứng, tài sản số 0002538 ngày 28/5/2018)

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ