vanban.org

Bản án 32/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 26/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Nguyễn Xuân M phạm tội “Đánh bạc”.

Xử pha ̣t Nguyễn Xuân M 08(tám) tháng tù cho hưởng án treo , thờ i gian thử thách 16(mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm(26/9/2018). Tuyên bố Lê Văn H2 phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Minh và Lê Văn H2 phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Nguyễn Xuân M phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
H.YÊN ĐI ̣NH – T.THANH HÓ A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2018/HS-ST
Ngày 26-9-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐI ̣NH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kỳ Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Nguyệt

2. Bà Hoàng Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh, Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2018 tại Tru ̣ sở Tòa án nhân dân huyê ̣n Yên

Đi ̣nh, tỉnh Thanh Hóa xét x ử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Xuân M, sinh ngày 23 tháng 12 năm 1968 tại xã Yên Phong, huyê ̣n Yên Đi ̣nh , Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn 8, xã Yên Phong, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Viê ̣t Nam; con ông: Nguyễn Xuân H1 và bà: Trịnh Thị V; bị cáo có v ợ là Hoàng Thị S và có hai con; tiền án: không, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt ta ̣m giữ từ ngày 03/6/2018 đến ngày 06/6/2018 thì được thay đổi biê ̣n pháp ngăn chă ̣n. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Lê Văn H2, sinh ngày 05 tháng 3 năm 1967 tại xã Yên Phong, huyện Yên Định, Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn 7, xã Yên Phong, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Viê ̣t Nam; con ông: Lê Văn T1 và bà: Phạm Thị T2; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị O và có hai con; tiền án: không, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt ta ̣m giữ từ ngày 03/6/2018 đến ngày 06/6/2018 thì được thay đổi biê ̣n pháp ngăn chă ̣n. Bị cáo ta ̣i ngoa ̣i có mă ̣t ta ̣i phiên tòa

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Phạm Văn P

2. Nguyễn Hữu K

- Ngườ i là m chứ ng: Nguyễn Hồng S.

Tại phiên tòa vắng mặt anh P, anh K và anh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 03/6/2018 M ở nhà tại thôn 8, xã Yên Phong, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa để bán hàng vật liệu xây dựng thì có một số khách qua đường vào hỏi ghi số lô, số đề M đồng ý. M ghi các số lô, số đề mà khách đánh ra một tờ giấy A4 (gọi là bảng đề) đồng thời M ghi số lô, số đề khách chơi ra một tờ giấy (gọi là các đề) đưa lại cho khách để làm cơ sở tính thắng thua. Vào ngày 03/6/2018 M ghi số lô, số đề cho khách với số tiền tương ứng là 16.160.000đ gồm Lê Văn H2 chơi số đề với số tiền tương ứng là 6.950.000đ; Phạm Văn P chơi các số lô, số đề với số tiền tương ứng là 480.000đ, Nguyễn Hữu K chơi các số lô, số đề với số tiền tương ứng là 6.230.000đ. Trong đó M có nhận 200 điểm lô tương ứng với số tiền là 4.400.000 đồng (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng), lô xiên tương ứng với số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), và có các số đề chơi tương ứng với số tiền là 11.460.000 đồng (mười một triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng).

M tính tỷ lệ hoa hồng cho khách chơi số lô số đề như sau: Đối với số đề M tính cho khách 74 %, ví dụ: khách chơi 100.000 đồng thì chỉ phải thanh toán cho M 74.000 đồng, nếu thắng khách được 70.000 đồng, tức là 1 ăn 70 lần. Đối với số lô, M tính cho khách là 22.000 đồng/1 điểm lô, nếu thắng thì M phải trả cho khách 80.000 đồng/1 điểm lô. Nếu thua thì khách sẽ mất số tiền đã chơi. Cách tính thắng thua là căn cứ vào kết quả sổ xố Miền Bắc mở thưởng trong ngày. Đối với số đề được tính, người chơi thắng là cặp số của người chơi trùng với hai số cuối của giải đặc biệt. Đối với số lô được tính, người chơi thắng là khi cặp số của người chơi trùng với hai số cuối của tất cả các giải từ giải đặc biệt đến giải bảy. Song chưa có kết quả xổ số mở thưởng thì M đã bị Công an huyên Yên Định phát hiện bắt quả tang.

Đối với Lê Văn H2, sinh năm 1967 ở Thôn 7, xã Yên Phong, Yên Định, Thanh Hóa đã khai nhận: Ngày 03/6/2018 H2 có thích một số các số đề nên đã ghi ra một tờ giấy A4. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày H2 mang bảng ghi các số đó gồm: 90, 93, 94, 98, 95 mỗi số 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng), các số đề 09, 39, 94 mỗi số 450.000 đồng, các số đề 23, 32, 25, 52 mỗi số 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), các số đề 02, 20, 03, 30, 05, 50, 06 mỗi số 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) đến nhà M ở Thôn 8, xã Yên Phong để hỏi M có nhận số đề không, M đồng ý thì H2 chuyển cho M. Tổng số tiền H2 chơi với M ngày 03/6/2018 là 6.950.000 đồng (sáu triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng). Ngày 03/6/2018 sau khi M bị bắt quả tang về hành vi đánh bạc, H2 nhận thấy hành vi phạm tội của mình không thể che giấu được nên đã ra Cơ quan Công an huyện Yên Định đầu thú. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Yên Định đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn H2 ở Thôn 7, xã Yên Phong, huyện Yên Định. Kết quả khám xét: không thu giữ được gì.

Đối với Phạm Văn P, sinh năm 1971 ở Thôn 6, xã Yên Phong, huyện Yên Định đã khai nhận: vào ngày 03/6/2018 P có thích một vài số lô, số đề nên đã đến chơi số lô, số đề với M cụ thể như sau: Đầu 9, đít 9 mỗi đầu 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Đầu 4, đít 4, đầu 0, đít 0 mỗi đầu 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng). Số đề 09, 90 mỗi số 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Tổng số tiền chơi lô, đề với M ngày 03/6/2018 tương ứng là 480.000 đồng (bốn trăm tám mươi nghìn đồng). Như vậy P đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề tại nhà M, tuy nhiên anh P chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này, số tiền tham gia đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an Yên Định ra quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với P.

Theo M khai thì ngày 03/6/2018 anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 1966 ở Thôn 7, xã Yên Phong, Yên Định, Thanh Hóa có đến nhà anh M để chơi số lô, số đề như sau: Số lô 70 với 200 điểm tương ứng với số tiền là 4.400.000 đồng (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Các số đề 01, 10, 70, 50, 04, 40, 25, 52 mỗi số 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), các số đề 01, 10 mỗi số 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), các số đề 36, 63 mỗi số 15.000 đồng (mười lăm nghìn đồng). Tổng số tiền anh K chơi là 6.230.000 đồng (sáu triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng). Lúc anh K đến chơi số lô, số đề thì không có ai chứng kiến. Qua đấu tranh thì anh K khai báo vào ngày 03/6/2018 anh không chơi số lô, số đề với anh M, và ngày 03/6/2018 anh đang đi làm tại Công ty TNHH đầu tư xây dựng và thương mại B có trụ sở đóng tại xã Minh Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ngoài ra các số lô, số đề còn lại M nhận của khách qua đường với tổng số tiền tương ứng là 2.500.000 đồng. Qúa trình điều tra không xác M được là của ai và ở đâu.

Số tiền mà P, H2 chơi số lô, số đề chưa thanh toán cho M mà chờ sau khi có kết quả sổ xố miền bắc làm căn cứ được thua rồi mới thanh toán sau, còn số tiền lô, đề M nhận của khách qua đường thì M đã thu tiền và sử dụng để mua sơn về bán.

Tại bản cáo trạng số 30/CT-KS§T-TA ngµy 21 th¸ng 8 n¨m 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh đa truy tỗ

́ bi ̣ cáo Nguyễn Xuân M và bị cáo Lê Văn H2 về tô ̣i “ đánh ba ̣c” theo khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiể m sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh vẫn giữ nguyên quyết đi ̣nh truy tố bị cáo Nguyễn Xuân M và bị cáo Lê Văn H2 về tô ̣i “ đánh ba ̣c” theo khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luâ ̣t và tuyên pha ̣t bi ̣ cáo cu ̣ thể như sau:

Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; điểm a khoản 1 điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử pha ̣t Nguyễn Xuân M từ 30.000.000đ đến 35.000.000đ để sung quỹ nhà nước.

Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm a khoản 1 điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử pha ̣t Lê VănH2 từ 25.000.000đ đến30.000.000đ để sung quỹ nhà nước.

Về xử lý vâ ̣t chứ ng: Áp dụng điểm b khoản 2 điều 106 BLTTHS.

Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với Nguyễn Xuân M số tiền đánh bạc là 9.210.000đ nhưng được trừ đi số tiền đã tự nguyện giao nộp tại Chi cục THADS huyện Yên Đinh.

Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với Lê Văn H2 số tiền đánh bạc là 6.950.000đ nhưng được trừ đi số tiền đã tự nguyện giao nộp tại Chi cục THADS huyện Yên Đinh.

Về án phi: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

́

̀

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Đi ̣nh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Đi ̣nh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi pha ̣m tô ̣i của các bị cáo:

1. Hành vi phạm tội của Nguyễn Xuân M:

Ngày 03/6/2018 Nguyễn Xuân M có hành vi ghi số lô, số đề cho khách với số tiền tương ứng là 16.160.000đ. M tính tỉ lệ hoa hồng cho khách chơi số đề là 74%, đối với số lô M tính cho khách là 22.000đ/1 điểm lô, nếu thắng thì M phải trả cho khách 80.000đ/1 điểm lô. Nếu thua khách dẽ mất số tiền đã chơi. Cách tính thắng thu là căn cứ vào kết quả sổ xố Miền Bắc mở thưởng trong ngày. Mục đích ghi nhạn số lô, số đề cho khách là để giữ lại nhằm kiếm lời, khi chưa có kết quả xổ số mở thưởng hàng ngày thì bị phát hiện và bắt giữ.

2. Hành vi phạm tội của Lê Văn H2:

Ngày 03/6/2018 Lê Văn H2 ghi các số đề ra một tờ giấy A4 đến 15 giờ cùng ngày H2 đưa bảng ghi các số đề đó đến nhà M, M đồng ý nhận các số đề của H2. Tổng số tiền H2 chơi với M ngày 03/6/2018 là 6.950.000đ.

Tại phiên tòa sơ thẩm , các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nô ̣i du ̣ng bản cáo tra ̣ng . Lờ i khai nhâ ̣n của bi ̣ cáo phù hợp vớ i các tài liê ̣u

, chứ ng cứ có trong hồ sơ . Vì vậy, Hô ̣i đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luâ ̣n Nguyễn Xuân M và Lê Văn H2 phạm tội “đánh bạc” theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 điều 321 của BLHS. Do đó bản cáo tra ̣ng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh , Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân M và Lê Văn H2 về tô ̣i “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng ngườ i, đúng tô ̣i và đúng quy đi ̣nh của pháp luật.

Đối với việc Nguyễn Xuân M cho rằng trong số tiền bị cáo nhận cá cược số lô, số đề thì bị cáo có nhận của anh Nguyễn Hữu K, trú tại Thôn 7, xã Yên Phong, Yên Định, Thanh Hóa với số tiền là 6.230.000đ nhưng quá trình điều tra không chứng M được việc anh K tham gia cá cược số lô, số đề với M nên việc Cơ quan điều tra không khởi tố và VKSND Yên Định không khởi tố đối với anh K là đúng quy định của pháp luật.

Đối với hành vi cá cược số lô, số đề với M của anh Phạm Văn P thấy rằng số tiền tham gia các cược ít, trong khi đó anh P là người không có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc. Do đó việc không khởi tố đối với anh P cũng đúng quy định của pháp luật.

[3] Tính chất nguy hiểm cho xa hô ̣̃ i của vu ̣ án , nhân thân bi ̣ cáo và các tinh

̀ tiết tăng nă ̣ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Tính chất nguy hiểm cho xã hội của vụ án:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , đa xâm phạm đếñ viê ̣c quản lý trâ ̣t tự công cô ̣ng là mô ̣t trong những khách thể quan tro ̣ng được pháp luâ ̣t bảo vê ̣. Chính hành vi phạm tội của các bị cáo đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của gia đinh và xa hô ̣̃ i , “đánh bạc” dẫn đến việc xa xút kinh tế của rất

̀ nhiều gia đinh và là nguyên nhân dẫn đến viê ̣c tan vỡ ha ̣nh phúc gia đinh và là

̀

̀ nguyên nhân phát sinh nhiều tô ̣i pha ̣m khác.

Trong vụ án này, Nguyễn Xuân M là người giữ vai trò số 1 trong vụ án, bị cáo đứng ra nhận các số lô, số đề của bị cáo H2 và một số người khác để kiếm lời. Bị cáo H2 vì cũng muốn kiếm lời từ việc đánh bạc nên đã ghi một số số đề đưa cho M nên giữ vị trí số 2 trong vụ án.

2. Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo đều là những người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện nộp một phần số tiền đã sử dụng vào việc phạm tội; lần phạm tội này của các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 BLHS.

Ngoài những tình tiết giảm nhẹ nêu trên, Lê văn H2 có có thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS số là sau khi phạm tội đã ra đầu thú.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt chính đối với các bị cáo: Do các bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 51 BLHS vì vậy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng điều 65 của BLHS để cho các bị cáo được hưởng án treo cũng có thể cải tạo các bị cáo thành người có ích cho xã hội.

[5] Về phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội với mục đích hám lời vì vậy cần áp dụng khoản 2 Điều 35, khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự để phạt tiền là bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Xử lý vâ ̣t chứ ng:

Cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền đánh bạc của các bị cáo .

Trong giai đoạn xét xử, Nguyễn Xuân M đã tự nguyện nộp số tiền 2.000.000đ và Lê Văn H2 đã nộp số tiền 3.000.000đ tại Chi cục THADS huyện Yên Định nên cần phải trừ số tiền trên cho các bị cáo là phù hợp

- Về án phi: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản2

́ điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự vàkhoản 1 điều 21, điểm a khoản1 điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; khoản 1, khoản 2 điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sử a đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố Nguyễn Xuân M phạm tội “Đánh bạc”.

Xử pha ̣t Nguyễn Xuân M 08(tám) tháng tù cho hưởng án treo , thờ i gian thử thách 16(mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm(26/9/2018).

Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1, khoản 2 điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sử a đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố Lê Văn H2 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử pha ̣t Lê Văn H2 06(sáu) tháng tù cho hưởng án treo , thờ i gian thử thách 12(mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/9/2018).

Giao các bi ̣ cáo Nguyễn Xuân M và Lê Văn H2 cho UBND xa Yên Phong ,̃ Yên Định, Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào khoản 2 điều 35; khoản 3 điều 321 BLHS

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Xuân M và Lê Văn H2 mỗi bị cáo 10.000.000đ để sung quỹ nhà nước.

2. Xử lý vâ ̣t chứ ng: Áp dụng điểm b khoản 2 điều 106 BLTTHS.

Truy thu, nộp ngân sách nhà nước đối với Nguyễn Xuân M số tiền 9.210.000đ nhưng được trừ đi số tiền 2.000.000đ đã nộp tại phiếu thu số AA/2015/0000179 ngày 26/9/2018 của Chi cục THADS huyện Yên Định. Nguyễn Xuân M còn phải nộp số tiền 7.210.000đ.

Truy thu, nộp ngân sách nhà nước đối với Lê Văn H2 số tiền 6.950.000đ nhưng được trừ đi số tiền 3.000.000đ đã nộp tại phiếu thu số AA/2015/0000178 ngày 26/9/2018 của Chi cục THADS huyện Yên Định. Lê Văn H2 còn phải nộp số tiền 3.950.000đ.

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Nguyễn Xuân M, Lê Văn H2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phi hinh sự sơ

́ ̀ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo, vắng mă ̣t ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mă ̣t được quyền kháng cáo trong ha ̣n15 ngày kể từ ngày bản án được tống đa ̣t hợp lê ̣.

Cỡ chữ