vanban.org

Bản án 32/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định Tuyên án 29/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn P phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn P 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 20/4/2018); Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn P - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn P phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN TRƯỜNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2018/HS-ST
Ngày: 29 - 5 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đinh Thị Hồng Thơm;

Ông Trần Đình Phấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Trinh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2018/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28 /2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2018, đối với bị cáo:

Đoàn Văn P, sinh năm 1977 tại xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 15, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn T (đã chết) và bà Trần Thị T1 có vợ là Ngô Thị V, sinh năm 1985; có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 20/4/2018 đến ngày 26/4/2018 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; có mặt.

- Người chứng kiến:

1. Ông Cao Văn L, sinh năm 1961; địa chỉ: Xóm 10, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

2. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1973; địa chỉ: Xóm 17, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn Văn P là đối tượng nghiện ma túy. Trưa ngày 19/4/2018, P đi bộ từ nhà ở Xóm 15, xã X, huyện X đến khu vực chợ xã G, huyện G tìm mua ma túy để sử dụng. P đã mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 100.000 đồng được 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy vở học sinh, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, cất vào trong người rồi đi bộ về nhà. Khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày, P mang theo trong người gói ma túy đã mua đi bộ đến khu vực chợ G thuộc Xóm 15, xã X tìm nơi sử dụng thì bị Tổ Công tác Phòng PC 47 Công an tỉnh Nam Định tuần tra phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác mời người chứng kiến và đưa P về trụ sở UBND xã X lập biên bản, niêm phong gói nhỏ thu giữ trong túi quần của P ký hiệu là K và thu 01 điện thoại Samsung đã cũ. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đoàn Văn P không thu giữ được gì.

Theo Bản kết luận giám định số 353/GĐKTHS ngày 20/4/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu K gửi giám định là ma túy, loại ma túy là Heroine, trọng lượng (khối lượng) là 0,150 gam. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều không có khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Cáo trạng số 29/CT - VKS ngày 16/5/2018 của VKSND huyện Xuân Trường truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Đoàn Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số Heroin còn lại sau giám định, trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Samsung.

Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, hứa sửa chữa lỗi lầm và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều không có khiếu nại gì.

Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa cũng phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 19/4/2018 tại khu vực Xóm 15, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, bị cáo Đoàn Văn P có hành vi cất giấu trong người 0,150 gam Heroin để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Phòng PC 47 Công an tỉnh Nam Định bắt quả tang. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, biết rõ Heroin là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nhưng vẫn cố ý tàng trữ để sử dụng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường truy tố bị cáo về tội danh như trên là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa P. Bản thân bị cáo đã sử dụng ma túy từ tháng 08/2017, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng không có ý thức cai nghiện nên cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, kinh tế gia đình khó khăn, có con nhỏ đang phải nuôi dưỡng nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Xử lý vật chứng: Số Heroin cơ quan Công an đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động Samsung đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án phí: Bị cáo Đoàn Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, quá trình điều tra cũng chưa xác định được người bán ma túy nên chưa có cơ sở để xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn P phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn P 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 20/4/2018);

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số Heroin còn lại trong phong bì thư niêm phong số 353/GĐKTHS được hoàn trả sau giám định;

Trả lại bị cáo Đoàn Văn P 01 điện thoại di động Samsung;

(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao vật chứng, tài sản số 40/CCTHA lập ngày 22/5/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Trường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Đoàn Văn P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Đoàn Văn P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ