- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2018/HS-ST Ngày 23-4-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Thanh Tâm.
2. Ông Phạm Đức Hiển.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuyên Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2018/HSST ngày 09 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Trần Ngọc T; Sinh ngày 14 tháng 12 năm 1982 tại tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam. Con ông: Trần Hải R (Trần Công R) và bà Trần Thị N; Có vợ: Chị Vũ Thị T; Có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008; Từ tháng 01/2001 đến tháng 02/2002 tham gia nghĩa vụ quân sự; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 11/01/2018 đến ngày 17/01/2018 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Trần Văn H, sinh năm 1952,
Trú tại: Thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình
2. Ông Lê Văn T, sinh năm 1952,
Trú tại: Thôn A, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình
Ông H, ông T đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 11/01/2018, tại khu vực nghĩa trang thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, lực lượng Công an huyện Vũ Thư phát hiện bắt quả tang Trần Ngọc T đang tàng trữ trái phép tại túi áo khoác phía bên trái T đang mặc 01 gói nhỏ được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng bên trong chứa 0,3115 gam ma túy, loại Hêrôin.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Do bị mắc nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ ngày 11/01/2018, bị cáo đi lên khu vực chợ Đ, phường T, thành phố Thái Bình tìm mua Hêrôin về mục đích để sử dụng cho bản thân và bị cáo có mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ 100.000 đồng được 01 gói nhỏ Hêrôin được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, bị cáo cất vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi về nhà. Trên đường đi bị cáo vào của hàng thuốc tân dược mua 01 bơm tiêm bằng nhựa và 01 ống Noovocain với giá 3.000 đồng rồi bỏ vào túi quần dài phía trước bên phải đang mặc khi đi bộ về đến khu vực nghĩa trang thôn L, xã T, huyện V thì bị Công an huyện Vũ Thư kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.
Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Vũ Thư lập hồi lập hồi 13 giờ 30 phút ngày 11/01/2018; Biên bản niêm phong vật chứng do Công an huyện Vũ Thư lập hồi 14 giờ 35 phút ngày 11/01/2018 lập tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình; Biên bản ghi lời khai của những người làm chứng là ông Trần Văn H và ông Lê Văn T đều thể hiện như lời khai của bị cáo.
Bản kết luận giám định số 21/KLGĐ- PC54 ngày 11/01/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận:“Mẫu gửi giám định thu của Trần Ngọc T là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,3115 gam (Không phẩy ba nghìn một trăm mười lăm gam)” Heroine STT: 20, Danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của chính Phủ”.
Bản Cáo trạng số 31/CT- VKSVT ngày 03 tháng 4 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin còn lại trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 21/KLGĐ- PC54 ngày 11/01/2018; 01 bơm tiêm bằng nhựa và 01 ống Noovocain. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp. Bị cáo không khiếu nại hay có ý kiến gì.
Về căn cứ kết tội đối với bị cáo:
Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản kết luận giám định nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 11/01/2018, tại khu vực nghĩa trang thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, lực lượng Công an huyện Vũ Thư phát hiện bắt quả tang Trần Ngọc T đang tàng trữ trái phép tại túi áo khoác phía bên trái T đang mặc 0,3115 gam ma túy, loại Hêrôin, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo đã biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, do vậy phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo không có tiền án tiền sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có thời gian tham gia và đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và bố đẻ của bị cáo là người có công với Cách mạng, được Chủ tịch nước tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang vào năm 2001. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, không có mục đích kiếm lời, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo được hoàn trả sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 bơm tiêm bằng nhựa và 01 ống Noovocain bị cáo mua để sử dụng ma túy nên cần tịch thu để tiêu hủy.
Về các vấn đề khác trong vụ án: Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo chưa xác định được tên và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2018
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 bơm tiêm bằng nhựa; 01 ống Noovocain và 0,2710 gam ma túy, loại Hêrôin được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 21/KLGĐ- PC54 ngày 11/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình;
(Vật chứng đang được Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình quản lý theo phiếu nhập kho số 42 ngày 05/4/2018)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/4/2018.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hƣơng |