- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Sỹ T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2018/HS-ST Ngày 27-12-2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN – TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hiến Công Hanh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ma Đức Tuệ
2. La Đức Cường
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ma Thị Khuyến - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Đỗ Mai Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2018/HS-ST ngày 03/12/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/QĐXXST-HS ngày 13/12/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: HÀ SỸ T (tên gọi khác không), sinh ngày 19/01/1965 tại xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở tại: Thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; trình độ văn hoá: 7/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Sỹ Th (Đã chết) và bà Lý Thị Đ; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2018 đến nay. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nông Thị T, sinh năm 1968. Trú tại: Thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt
NHẬN THẤY
Bị cáo Hà Sỹ T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồ 14 giờ 30 phút, ngày 31/7/2018 tại thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn Công an tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang Ma Văn C (sinh năm 1968- trú tại thôn K, xã Y, huyện Ch, tỉnh Tuyên Quang) cùng Hà Sỹ T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 01 túi nilon trong suốt bên tay trái của Ma Văn C đang cầm bên trong có 02 gói nilon màu đen. Trong đó, 01 gói nilon màu đen bên trong có chứa chất bột màu trắng lẫn hồng; 01 gói nilon màu đen bên trong có có 04 gói nilon trong suốt có chứa chất bột màu trắng dạng cục. Các gói nilon đều được cuộn bằng dây nịt màu vàng. Ngoài ra còn thu giữ của Ma Văn C số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động Mobell màu hồng; 01 điện thoại Samsung màu đen (cả hai chiếc điện thoại đều đã qua sử dụng). Thu giữ của Hà Sỹ T gồm: 01 giấy CMND mang tên Hà Sỹ T, 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đỏ- đen BKS 97B1-058.57 kèm 01 chìa khóa xe, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 001188 mang tên Lèng Thị S, 01 điện thoại di động BAVAPEN màu hồng đã qua sử dụng.
Ngày 31/7/2018, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Hà Sỹ T tại thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn: Thu giữ trong túi áo vét màu đen treo trong tủ bạt kê trong buồng ngủ của Hà Sỹ T 01 gói nilon màu đen bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 cân tiểu ly cũ, đã qua sử dụng; 01 xe máy nhãn hiệu Win, BKS 22K-9746.
Tại cơ quan điều tra Hà Sỹ T khai nhận:
Khoảng 18 giờ ngày 30/7/2018 khi T đang ở nhà thì có Ma Văn C gọi điện thoại di động cho T và bảo T nấu cơm cho Cung để C sang chơi. Đến khoảng 20 giờ tối thì C một mình đi xe máy nhãn hiệu Win -biển kiểm soát 22K3-7946 sang đến nhà T và ăn cơm tại nhà T. Khoảng 21 giờ Cung rủ T đi ra ngoài cách nhà T khoảng 40 mét rồi chui vào bụi cây cạnh đường và lấy gói ma túy ra chia nhau sử dụng bằng hình thức hít. Sau khi sử dụng ma túy xong, C rủ T hôm sau đi cùng C xuống Thành phố Thái Nguyên để tìm mua ma túy về sử dụng nhưng T nói không có tiền, C nói với T là C có mấy triệu, sau khi đi mua ma túy về C sẽ cho T sử dụng chung ma túy và sẽ cho T thêm một phân ma túy để sử dụng dần và T đồng ý. Sáng 31/7/2018, Cung và T thống nhất là đi chung một xe. T lấy xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đỏ-đen BKS 97B1-058.57 của vợ T để chở C đi Thái Nguyên để mua ma túy. Trên đường đi T thấy C điện thoại cho ai đó T không biết và nghe không rõ nội dung cuộc điện thoại của C. Khi đi đến Thành phố Thái Nguyên thì T rẽ đi về hướng huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, khi đi được khoảng 03km thì C chỉ đường cho T rẽ vào một ngõ nhỏ hai bên đều có nhà nhưng T không biết cụ thể tên ngõ rẽ rồi dừng lại. Được khoảng hơn một phút thì thấy có một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi đi xe máy WAVE T không nhìn thấy biển số xe (cả C và T đều không biết tên, tuổi và địa chỉ) đi đến gần vị trí xe của T khoảng 05 mét thì dừng lại sau đó C đi lại gần người đàn ông đó và lấy tiền trong túi quần đưa cho người đàn ông, sau khi nhận tiền người đàn ông đó đưa 01 gói ma túy cho C. Sau khi mua được ma túy T chở C về huỵen C, tỉnh Bắc Kạn. Khi cả hai đi đến khu vực thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị Công an tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang.
Ngoài ra T còn khai nhận: Trước đó khoảng 10 ngày, T đã đi mua 01 gói ma túy loại (heroin) với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng) với người đàn ông xe ôm (không biết tên, địa chỉ) tại thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên về để sử dụng. Khi khám xét nhà T vào ngày 31/7/2018 Cơ quan điều tra đã thu giữ được số ma túy này trong túi áo vét treo trong buồng ngủ của T.
Đối với Ma Văn C đã chết ngày 04/8/2018 do bệnh lý. Do đó, không xem xét xử lý.
Tại bản kết luận giám định số 76/KTHS-MT ngày 04/8/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận:
- Mẫu chất màu trắng lẫn hồng trong phong bì ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy, loại Heroin và Methamphetamine, có khối lượng là 0,44g (không phẩy bốn bốn gam).
- Mẫu chất màu trắng có trong phong bì ký hiệu T2 gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng là 14,130g (mười bốn phẩy một ba mươi gam).
- Mẫu chất màu trắng trong phong bì ký hiệu Đ1 gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng là 0,017g (không phẩy không một bảy gam).
Tại bản cáo trạng số 24/CTVKS-CĐ, ngày 30 tháng 11 năm 2018 truy tố Hà Sỹ T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Về hình phạt tù: Xử phạt Hà Sỹ T mức án từ 06 đến 07 năm tù.
- Phạt bổ sung bằng tiền: Không áp dụng đối với bị cáo do không có điều kiện thi hành.
- Vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy các phong bì ký hiệu T3, Đ2, T76 mẫu vật hoàn trả lại; 01 cân tiểu ly đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo 01 giấy CMND mang tên Hà Sỹ T;
Tạm giữ để thi hành án 01 điện thoại di động BAVAPEN màu hồng đã qua sử dụng của Hà Sỹ T.
Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Mobell màu hồng, 01 điện thoại Samsung màu đen (cả hai chiếc điện thoại đều đã qua sử dụng) thu của Ma Văn C.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Đồn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo Hà Sỹ T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố. Chứng minh cho lời nhận tội của bị cáo còn có các tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập trong hồ sơ vụ án như, lời khai của Ma Văn C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết quả trưng cầu giám định vật chứng cùng toàn bộ lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và một số tài liệu liên quan. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do trước đó (tối ngày 30/7/2018) được Ma Văn C rủ cùng đi mua ma túy và C hứa cho ma túy sử dụng, sáng ngày 31/7/2018, Hà Sỹ T lấy xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đỏ-đen BKS 97B1-058.57 của vợ T để chở C đi Thái Nguyên để mua ma túy. Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 31/7/2018 sau khi mua được ma túy C và T khi về đến thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị Cơ quan Công an tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 14,57g (mười bốn phẩy năm bảy gam) ma túy, loại heroin và methamphetamine. Ngoài ra, Quá trình khám xét khẩn cấp nhà riêng của Hà Sỹ T cơ quan công an còn phát hiện T tàng trữ 0,017g (không phẩy không một bảy gam) ma túy loại heroin. Tổng khối lượng ma túy bị thu giữ là 14,587g (mười bốn phẩy năm tám bảy gam) loại heroin và methamphetamine với mục đích để sử dụng.
Tại điểm d, tiểu mục 3.7, mục 3, phần II Thông tư liên tịch số 17/2007, ngày 24 tháng 12 năm 2007 của BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định.
“Người nào biết người khác mua chất ma túy để sử dụng trái phép mà dùng phương tiện để chở họ cùng chất ma túy và bị bắt giữ nếu số lượng chất ma túy đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy thì người đó là đồng phạm với người mua về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy quy định tại Điều 194 BLHS”.
Hành vi trên của Hà Sỹ T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm giúp sức, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, tội danh có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm, cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện là rất nguy hiểm, đã xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng để nhận thức về tác hại của ma túy, hiểu rõ hành vi này bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Quá trình điều tra xác định, Ma Văn C là người đề xuất, khởi xướng, rủ rê và trực tiếp bỏ tiền và giao dịch mua ma túy, bị cáo T phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức. Tuy nhiên, Ma Văn C đã chết ngày 04/8/2018 do bệnh lý. Do đó, không xem xét xử lý.
Trong tình hình tội phạm về ma túy và hậu quả của việc dùng ma túy gây mất an ninh trật tự xã hội như hiện nay, hành vi này cần phải xử phạt nghiêm để giáo dục, răn re chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, gia đình bị cáo có bố đẻ được tăng thưởng Huân chương kháng chiến, vì vậy, phạm tội lần này bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy đinh tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngày 09/4/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã được xóa án tích; khối lượng chất ma túy bị cáo tàng trữ tại nhà chưa đủ khối lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (phạm tội hai lần trở lên hoặc tái phạm) quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Với tính chất mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về vật chứng:
- Đối với chiếc xe mô tô BKS 97B1-058.57 bị cáo sử dụng để chở Ma Văn C đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định chủ sử hữu chiếc xe là bà Nông Thị T, khi bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội bà T không biết nên ngày 31/8/2018 cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cùng chìa khóa xe và giấy đăng ký xe mô tô cho bà T là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với chiếc xe mô tô BKS 22K3-7946 và số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) của Ma Văn C. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội Cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình Ma Văn C là đúng quy định của pháp luật.
- Tịch thu tiêu hủy các phong bì ký hiệu T3, Đ2, T76 mẫu vật hoàn trả lại; 01 cân tiểu ly đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo 01 giấy CMND mang tên Hà Sỹ T;
- Tạm giữ để thi hành án 01 điện thoại di động BAVAPEN màu hồng đã qua sử dụng của Hà Sỹ T.
- 01 điện thoại di động Mobell màu hồng, 01 điện thoại Samsung màu đen (cả hai chiếc điện thoại đều đã qua sử dụng) thu của Ma Văn C có liên quan đến vụ án xét cần tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước .
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tài liệu hồ sơ xác minh của cơ quan điều tra thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Nông Thị T là chủ sở hữu chiếc xe mô tô BKS 97B1-058.57, khi bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội bà T không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cùng chìa khóa xe và giấy đăng ký xe mô tô cho bà T và không xem xét xử lý trách nhiệm của bà T là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 của Quốc hội. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lý lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng Điểm g Khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Hà Sỹ T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt Hà Sỹ T 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2018.
2. Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì ký hiệu T3, mặt sau có 7 chữ ký không đọc được, có các dòng chữ “Hà Sỹ T”, “Ma Văn C” và có 02 dấu tròn màu đỏ niêm phong của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì ký hiệu Đ2, mặt sau có 7 chữ ký không đọc được, có các dòng chữ “Hà Sỹ T”, “Ma Văn C” và có 02 dấu tròn màu đỏ niêm phong của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (một) phong bì ký hiệu T76 đã niêm phong, bên ngoài mặt trước phong bì có ghi dòng chữ “Vụ Ma Văn C (1968) và Hà Sỹ T (1965) tràng trữ trái phép chất ma túy”. Mặt sau phong bì có 2 chữ ký không đọc được và có 02 dấu tròn màu đỏ niêm phong của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) cân tiểu ly đã qua sử dụng, có vỏ đựng bằng gỗ.
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) chứng minh thư nhân dân số 095156507 mang tên Hà Sỹ T do Công an tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 25/4/2009;
- Tạm giữ để thi hành án 01 (một) điện thoại di động màu hồng nhãn hiệu BAVAPEN loại điện thoại bàn phím cứng, máy cũ đã qua sử dụng, tình trạng máy đã tắt nguồn.
- Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động màu hồng nhãn hiệu Mobell màu hồng, loại điện thoại bàn phím cứng, máy cũ đã qua sử dụng, tình trạng máy đã tắt nguồn; 01 (một) điện thoại di động Samsung màu đen, máy cũ đã qua sử dụng. Loại điện thoại màn hình cảm ứng, mặt kính bị rạn vỡ. Tình trạng máy đã tắt nguồn.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Hà Sỹ T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
“Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND Chợ Đồn; - Công an Chợ Đồn; - Trại tam giam Công an tỉnh; - VKSND tỉnh; - THADS Chợ Đồn; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Hiến Công Hanh |