- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2018/HNGĐ-ST. Ngày: 27/11/2018. V/v: "Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Trƣơng Thoại Lƣợng.
2. Bà Châu Thị Chúc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Thanh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thuận, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 140/2018/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 8 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2018/QĐST-HNGĐ ngày 31/10/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 75/2018/QĐST-HNGĐ ngày 15/11/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tạ Ngọc A, sinh năm 1988 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Anh Lý H, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện ngày 14/5/2018, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Tạ Ngọc A trình bày:
Chi và anh Lý hoài đăng ký kết hôn trên tinh thần tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 25/5/2015. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc, nhưng đến khoảng đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nên không còn sống chung, nguyên nhân do bất đồng quan điểm. Trong quá trình chung sống anh, chị có 1 con chung tên Lý Tấn L, sinh ngày 21/2/2016 và hiện nay do chị đang chăm sóc nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Nay chị A nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn; xin được nuôi con chung, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung không có, nên không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn Lý H: Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý cho bị đơn hợp lệ, nhưng đến nay bị đơn không có ý kiến bằng văn bản gởi cho Toà án đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn. Toà án đã tống đạt thông báo, giấy triệu tập về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải hợp lệ đến lần thứ 2, nhưng bị đơn vắng mặt không lý do, nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý cho bị đơn hợp lệ, nhưng đến nay bị đơn không có ý kiến bằng văn bản gởi cho Toà án đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn; Toà án đã tống đạt thông báo, giấy triệu tập về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải hợp lệ đến lần thứ 2, nhưng bị đơn vắng mặt không lý do, nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử; Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên Tòa, nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử xét áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tung dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Xét thấy anh Lý H và chị Tạ Ngọc A kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 25/5/2015, phù hợp theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình.
Thời gian đầu chung sống anh, chị rất hạnh phúc, nhưng đến khoảng đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, nên không còn chung sống cho đến nay. Tại phiên tòa chị A kiên quyết xin ly hôn, do đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị A đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 cho ly hôn là phù hợp.
Về con chung: Anh, chị có 1 người con chung tên Lý Tấn L, sinh ngày 21/2/2016 và hiện nay do chị A đang chăm sóc nuôi dưỡng. Tại phiên tòa chị A xin được nuôi con.
Xét thấy cháu Lý Tấn L, sinh ngày 21/2/2016 đến nay chưa đủ 36 tháng tuổi; theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình "Con dưới 36 tháng tuổi thì được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, ...", căn cứ khoản 1, 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên giao cháu L cho chị A nuôi dưỡng đến trưởng thành; giành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho anh H theo khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là phù hợp; chị A không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị A trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; nên chị A phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn. Xét thấy đề nghị của Viện kểm sát là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tung dân sự.
- Khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tạ Ngọc A và anh Lý H.
- Về con chung: Giao cháu tên Lý Tấn L, sinh ngày 21/2/2016 cho chị A nuôi dưỡng đến trở thành; giành quyền, nghĩa vụ thăm nom con cho anh H.
Chị A không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị A trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn) án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn) theo biên lai thu tiền số 0003707 ngày 08/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án tỉnh; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - UBND xã An Hiệp; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Trúc |