- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh P và chị Nguyễn Thanh V đối với ông Phạm Tranh N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2018/DS-ST Ngày: 11-6-2018. V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Khon
2. Ông Nguyễn Quốc Trí
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Xuân – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 tháng 5 và ngày 11 tháng 6 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2018/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp dân sự hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2018/QĐXX-ST ngày 08 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2018/QĐST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Anh Trần Thanh P, sinh năm: 1977;
2. Chị Nguyễn Thanh V, sinh năm: 1980;
Cùng nơi cư trú: Khóm B, thị trấn T, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Chị Nguyễn Thanh V ủy quyền cho anh Trần Thanh P theo văn bản ủy quyền ngày 10/5/2018.
- Bị đơn: Ông Phạm Tranh N, sinh năm: 1969
Nơi cư trú: Ấp T2, xã T3, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/12/2017, biên bản lấy lời khai ông Trần Thanh P ngày 12/4/2018, biên bản hòa giải ngày 12/3/2018 và ngày 12/4/2018 và trong quá trình xét xử:
* Nguyên đơn anh Trần Thanh P và chị Nguyễn Thanh V trình bày: Vào năm 2015 ông Tranh N có đến cửa hàng của anh chị vay tiền, việc ông Tranh N vay tiền để làm gì tôi không biết.
- Căn cứ Hợp đồng vay tiền số 13 ngày 28/6/2015 anh chị cho ông Tranh N vay số tiền gốc là 6.800.000đ, thỏa thuận hàng tháng trả gốc lãi là 634.667đ, thời hạn trả là 12 tháng đến tháng 05/2016 thì trả dứt nợ, tổng cộng số tiền gốc lãi là 7.616.000đ. Sau khi ký hợp đồng anh chị đã giao đủ số tiền vay cho ông Tranh N căn cứ biên nhận nhận tiền ngày 29/6/2015.
- Căn cứ Hợp đồng vay tiền số 12112015 ngày 12/11/2015 anh chị có cho ông N vay số tiền gốc là 6.799.000đ, hình thức vay là trả gốc lãi hàng tháng mỗi tháng trả 634.573đ, thời hạn trả là 12 tháng, đến tháng 11/2016 thì trả dứt nợ, tổng cộng số tiền gốc lãi là 7.614.880đ. Sau khi ký hợp đồng thì anh chị đã giao đủ số tiền vay gốc cho ông N là 6.799.000đ, căn cứ vào biên nhận nhận tiền ngày 12/12/2015.
Biên nhận tiền ngày 28/6/2015 ký kết tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thạnh, biên nhận tiền ngày 12/11/2015 ký kết tại cửa hàng của anh chị, nội dung hợp đồng và biên nhận là do anh chị soạn sẳn, ông N ký tên và lăn tay vào hợp đồng và biên nhận nhận tiền. Sau khi nhận tiền thì ông N có trả cho anh chị được một số tiền nhưng không nhớ bao nhiêu, rồi không trả nữa, nên vào tháng 4/2016 anh chị có thưa ông N ra Ban nhân dân ấp Trung, ông N thống nhất còn nợ số tiền của hai hợp đồng là 7.796.000đ, cam kết trả mỗi tháng là 600.000đ. Từ tháng 5/2016 đến thàng 8/2016 ông N trả được tổng cộng số tiền là 1.400.000đ, còn nợ lại số tiền 6.396.000đ đến nay vẫn không trả.
Nay anh chị yêu cầu ông N trả lại số tiền còn nợ gốc lãi là 6.396.000đ, không yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Phạm Tranh N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông N không cung cấp văn bản ý kiến về việc yêu cầu khởi kiện của anh P, chị V, cũng như tham dự phiên họp, hòa giải nên Tòa án không thu thập lời khai, ý kiến của ông N về yêu cầu khởi kiện của anh P, chị V.
Tại phiên tòa anh Trần Thanh P trình bày: Việc anh chị cho ông N vay tiền để mở quán cà phê, từ tháng 8/2016 đến nay ông N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên đã vi phạm thỏa thuận, yêu cầu ông N trả lại số tiền còn nợ gốc lãi là 6.396.000đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, riêng đối với bị đơn ông N từ khi thụ lý vụ án đến nay vắng mặt không tống đạt được các thủ tục tố tụng như thông báo thụ lý, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử mà chỉ niêm yết và không có văn bản trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, như vậy ông N chưa thực hiện đúng Điều 70, 72 BLTTDS năm 2015, cần phê phán rút kinh nghiệm.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh P và chị V đối yêu cầu ông N trả số tiền vay gốc là 6.396.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung:
- Về thẩm quyền giải quyết: Do tranh chấp giữa cá nhân và cá nhân, ông N hiện nay đăng ký hộ khẩu thường trú ở ấp Trung, xã Tân Thạnh, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về pháp luật tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay ông Phạm Tranh N vắng mặt lần thứ hai, Hội đồng xét xử xét thấy ông N đã được triệu tập hợp lệ đúng theo quy định, nhưng ông N vẫn vắng mặt, không có lý do. Nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn theo địa chỉ bị đơn ghi trong hợp đồng vay tiền, tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của bị đơn, nhưng bị đơn không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, cũng như phiên tòa, đã chứng minh được bị đơn cố tình vắng mặt, không có ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N là phù hợp và đúng theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 và điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về quan hệ pháp luật: Căn cứ Hợp đồng vay tiền ngày 28/6/2015 và ngày 12/11/2015, anh P, chị V khởi kiện yêu cầu ông N trả lại số vay còn nợ là 6.396.000đ, vì cho rằng ông N vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên làm phát sinh tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, giao dịch này đã được thực hiện năm 2016, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của bộ luật dân sự năm 2015 nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Anh Trần Thanh P và chị Nguyễn Thanh V khởi kiện yêu cầu ông ông Phạm Tranh N trả lại số tiền vay gốc, lãi là 6.369.000đ là có cơ sở chấp nhận, căn cứ vào hợp đồng vay tiền và biên nhận nhận tiền ngày 28/6/2015 và ngày 12/11/2015, việc anh P, chị V cho ông N vay tiền là có thật đã xảy ra, ông N đã nhận đủ tiền vay, nhưng không thực hiện đúng theo thỏa thuận hợp đồng trả gốc lãi hàng tháng, chỉ trả được 1.400.000đ. Do vậy yêu cầu khởi kiện của anh P, chị V là có cơ sở chấp nhận nên buộc ông N trả lại số tiền vay gốc lãi còn nợ là 6.396.000đ, phù hợp với quy định tại Điều 463, 468 BLDS năm 2015.
Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
- Bị đơn ông Phạm Tranh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Nguyên đơn anh Trần Thanh P và chị Nguyễn Thanh V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho anh P, chị V số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
+ Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468, khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;
+ Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và điểm b khoản 1 Điều 238, khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh P và chị Nguyễn Thanh V đối với ông Phạm Tranh N.
Buộc ông Phạm Tranh N có trách nhiệm cá nhân trả lại cho anh Trần Thanh P và chị Nguyễn Thanh V số tiền vay còn nợ 6.396.000đ (Sáu triệu, ba trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
Khi anh Trần Thanh P và chị Nguyễn Thanh V có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Phạm Tranh N chưa thi hành xong số tiền nợ trên thì phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự vào từng thời điểm thi hành án, đối với số tiền chưa thi hành xong.
2/ Về án phí:
- Ông Phạm Tranh N phải chịu 319.800đ (Ba trăm mười chín nghìn tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Anh Trần Thanh P và chị Nguyễn Thanh V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số BO/2014 - 02412 ngày 05/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình; - Chi cục THA DS huyện Thanh Bình; - Tòa án ND tỉnh Đồng Tháp; - Cổng thông tin Điện tử Tòa án; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lý Thị Bích Thơ |