vanban.org

Bản án 32/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 05/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy D phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo Nguyễn Duy D cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy D_Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy D phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 202 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2017/HSST
Ngày: 05/7/2017.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Kiều Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Bình.

2. Ông Huỳnh Văn Long.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuất – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 29/2017/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2017 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Duy D, sinh năm 1990, tại: Hà Nội.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay (Nơi đăng ký tạm trú): phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 9/12; con ông Nguyễn Duy L, sinh năm 1959 và bà Phạm Thị D, sinh năm 1962; có vợ tên Sa Thị H, sinh năm 1995, có 02 người con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Trần Văn P (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Văn S, sinh năm: 1970 và bà Huỳnh Thị T, sinh năm: 1973, cùng trú tại: ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Duy T, sinh năm: 1988; Địa chỉ: phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 21/01/2017, Nguyễn Duy D có giấy phép lái xe (hạng C) điều khiển xe ô tô biển số 60V-xxxx với vận tốc khoảng 50km/h lưu thông hướng xã T đến xã P. Khi đến đoạn Km 14 + 900 ĐT 768 thuộc xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, D điều khiển xe ô tô lấn sang phần đường bên trái, va chạm với xe mô tô biển số 60B9-xxxxx do anh Trần Văn P điều khiển đang lưu thông ngược chiều gây tai nạn giao thông.

Hậu quả: Anh Trần Văn P bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện, đến ngày 24/01/2017 thì tử vong.

Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô biển số: 60B9-xxxxx, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu đã xác định rõ nguồn gốc xử lý trả lại cho ông Trần Văn S là chủ sở hữu; 01 xe ô tô biển số: 60V-xxxx, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã xác định rõ nguồn gốc xử lý trả lại cho anh Nguyễn Duy T là chủ sở hữu.

Tại bản Kết luận giám định số 036/TT/2017 ngày 08/02/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai xác định nguyên nhân tử vong của anh Trần Văn P do đa chấn thương “Chấn thương sọ não gây tụ máu dưới màng cứng thái dương đỉnh trái, dập não thái dương đỉnh trái, phù não nặng dẫn đến thoái vị não qua vết mổ”.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện:

Xe ô tô biển số 60V-xxxx lưu thông hướng xã T – xã P; xe ô tô biển số 60B9-xxxxx lưu thông hướng ngược lại, lấy lề đường bên phải theo hướng đi xã P – xã T làm chuẩn, lấy trụ điện số 31 ngoài lề đường cách lề bên phải 03m60, cách trục sau xe ô tô biển số 60V-xxxx là 09m10 làm mốc cố định.

Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường giao nhau, mặt đường rải bê tông Xi măng đường thẳng, phẳng. Mặt đường rộng 09m40.

Trên mặt đường Xi măng để lại vết phanh dài 44m90 do xe ô tô biển số: 60V-xxxx tạo nên, hướng vết phanh từ xã T về xã P, điểm đầu vết phanh cách lề đường bên phải là 04m10, điểm cuối tiếp giáp bánh sau xe ô tô cách lề đường bên phải 03m00.

Xe ô tô biển số 60V-xxxx dừng trên mặt đường đầu hướng về xã P đuôi về xã T, trục bánh trước và bánh sau cách lề phải lần lượt là 03m20 và 03m00.

Vết cày I do xe mô tô biển số 60B9-xxxxx tạo nên dài 10m50, hướng từ xã T đến xã P, điểm đầu và điểm cuối vết cày cách lề đường bên phải lần lượt là 05m40 và 05m00, cách điểm đầu vết cày II là 02m30.

Vết cày II do xe mô tô biển số 60B9-328.03 tạo nên dài 24m25, hướng từ xã T đến xã P, điểm đầu cách lề đường bên phải lần lượt là 04m25 và điểm cuối vết cày tiếp giáp với đầu gác chân trước bên phải xe mô tô biển số 60B9-xxxxx.

Xe mô tô biển số 60B9-xxxxx ngã sang bên phải nằm trên mặt đường ngay dưới gầm đầu xe ô tô biển số 60V-xxxx đầu xe hướng về lề phải, đuôi xe hướng về lề trái theo hướng đi, trục trước và trục sau cách lề phải lần lượt là 03m60 và 04m70.

Xác định tâm điểm va chạm giữa xe ô tô biển số 60V-xxxx và xe mô tô biển số 60B9-xxxxx cách lề đường bên phải 04m25 (tâm tim đường là 04m70).

* Khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông.

Xe mô tô biển số 60B9-xxxxx: Gương chiếu hậu bên trái, cụm mặt đồng hồ đo tốc độ, đèn chiếu sáng, đèn chuyển hướng hai bên bể vỡ văng rời khỏi vị trí, cụm mặt nạ, yếm chắn gió bên trái bể vỡ văng khỏi vị trí; ống giảm xóc bên trái cong gập về sau, vành bánh trước cong vênh biến dạng; vết chà mòn kim loại kích thước 01cm x 01cm đầu gác chân trước bên phải.

Xe ô tô biển số 60V-xxxx: Kính chắn gió phía trước bể vỡ văng khỏi vị trí. Cụm mặt nạ phía trước bên trái bể vỡ văng rời kích thước 45cm x 65cm; cụm đèn chiếu sáng, đèn chuyển hướng bên trái bể vỡ văng khỏi vị trí; vết móp thụng kim loại tại mép đầu thanh cản kích thước 82cm x 30cm, tâm vết móp có dính chất liệu sơn màu xanh do xe mô tô biển số 60B9-xxxxx tạo nên.

Bị cáo Nguyễn Duy D và ông Nguyễn Duy T là chủ phương tiện xe ô tô biển số 60V-xxxx tự nguyện thỏa thuận bồi thường số tiền 120.000.000đ với đại diện hợp pháp gia đình người bị hại là ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị T (cha, mẹ của anh P). Đại diện hợp pháp của bị hại đã viết đơn bãi nại không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo D và không yêu cầu bồi thường thêm về thiệt hại dân sự.

Ông Nguyễn Duy T là chủ sở hữu phương tiện xe ô tô biển số 60V-xxxx đã nhận lại xe ô tô không có yêu cầu gì khác.

Cáo trạng số 32/CT/VKS-HS ngày 31/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Duy D phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phát biểu luận tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo D đều thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo Nguyễn Duy D có giấy phép lái xe (hạng C) điều khiển xe ô tô biển số 60V-xxxx đi không đúng làn đường đã va chạm với xe mô tô biển số 60B9-xxxxx do anh Trần Văn P điều khiển ngược chiều gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Anh Trần Văn P bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện, đến ngày 24/01/2017 thì tử vong. Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy D đã vi phạm khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Tại phiên tòa, bị cáo D cung cấp tài liệu cha của bị cáo là người có công với cách mạng; bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy D từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Buộc bị cáo D chịu án phí theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Duy D nói lời sau cùng: Bị cáo không có ý kiến gì về hành vi vi phạm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án như: Các Biên bản khám nghiệm hiện trường và dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông, Biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông gây tai nạn, Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi… đã có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 21/01/2017 tại xã T1, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Duy D điều khiển xe ô tô biển số 60V-xxxx lưu thông theo hướng xã T đi xã P, chạy xe không đúng làn đường đã va chạm với xe mô tô biển số 60B9-xxxxx do anh Trần Văn P điều khiển theo hướng ngược chiều gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Anh Trần Văn P bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện, đến ngày 24/01/2017 thì tử vong do đa chấn thương: “Chấn thương sọ não gây tụ máu dưới màng cứng thái dương đỉnh trái, dập não thái dương đỉnh trái, phù não nặng dẫn đến thoát vị não qua vết mổ; chấn thương gây gãy 1/3 trên xương đùi trái”.

Như vậy, bị cáo D điều khiển xe ô tô đã không chấp hành đúng quy tắc để đảm bảo các điều kiện an toàn khi tham gia giao thông đường bộ. Trong điều kiện trời tối, bị cáo điều khiển xe ô tô với tốc độ khá nhanh, khi gặp anh P điều khiển xe mô tô đi ngược chiều ở gần giữa đường, bị cáo D không giảm tốc độ, điều khiển xe không đúng phần đường (lấn trái) đã gây ra vụ tai nạn giao thông, làm anh P tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ năm 2013, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” được quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu đã truy tố.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng của Nhà nước, gây đau thương, mất mát cho gia đình của bị hại. Mặc dù bị cáo D cho rằng khi xảy ra vụ tại nạn, người bị hại điều khiển xe mô tô chạy với tốc độ nhanh, có biểu hiện say rượu, chạy giữa đường, tuy nhiên lỗi chính trong vụ án này do bị cáo gây ra, vì vậy cần phải có một mức hình phạt nghiêm để cải tạo, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình. Sau khi xảy ra vụ tai nạn Bị cáo và gia đình đã chủ động bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình Bị hại. Người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo D. Bị cáo D có cha là ông Nguyễn Duy L (Nguyễn Văn L) tham gia chiến đấu tại chiến trường Campuchia và được tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng 3, thuộc các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo D có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định; có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ, vợ không có việc làm nên không cần cách ly để cải tạo, mà để chính quyền địa phương quản lý, giám sát đối với bị cáo, nên áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo Điều 60 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Nguyễn Duy D và ông Nguyễn Duy T là chủ phương tiện xe ô tô biển số 60V-xxxx đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường số tiền 120.000.000đ với đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Trần Văn S và bà Huỳnh Thị T (cha, mẹ của anh P) và không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Xe mô tô biển số 60B9-xxxxx và xe ô tô biển số 60V-xxxx trong vụ tai nạn, Cơ quan điều tra Công an huyện V đã xác định đúng chủ sở hữu và trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật. Các đương sự không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy D phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy D 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Duy D cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Nguyễn Duy D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt nên quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- TAND tỉnh Đồng Nai;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Đồng Nai;

- VKSND huyện Vĩnh Cửu;

- Chi cục THADS huyện Vĩnh Cửu;

- Bị cáo;

- Đại diện hợp pháp của người bị hại;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Lưu hồ sơ; văn phòng.

Đào Thị Kiều Vân

Cỡ chữ