vanban.org

Bản án 32/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Tuyên xử cho chị Đào Thị D được ly hôn với anh Trần Ngọc D

Về con chung: Do các bên đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: Các bên không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Thi Dung - Trần Ngọc Dũng"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Tuyên xử cho chị Đào Thị D được ly hôn với anh Trần Ngọc D
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỒNG PHÚ
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 29/8/2017
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ- TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Nguyên Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Trung Thành

2. Ông Nguyễn Viết Xứng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2017/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Đào Thị D, sinh năm 1990 (vắng mặt). Địa chỉ: đội 6, ấp 2, xã T, huyện P, tỉnh Bình Phước

*Bị đơn:

Anh Trần Ngọc D, sinh năm 1991 (Vắng mặt)

Địa chỉ:Đội 6, ấp 2, xã T,huyện P, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 28 tháng 2 năm 2017 cũng như tại bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Đào Thị D trình bày.

Về hôn nhân:Chị Đào Thị D và anh Trần Ngọc D chung sống và có đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Bình Phước vào năm 2015. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu cũng hạnh phúc nhưng tháng 4 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn do giữa chị D và anh D bất đồng quan điểm sống. Anh D thường xuyên bỏ nhà đi không rõ lý do, lúc về nhà thì kiếm chuyện gây sự, đánh đập chị D. Do những mâu thuẫn như trên và không thể dung hòa được nên anh D và chị D đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2016 cho đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị D yêu cầu xin được ly hôn với anh Trần Ngọc D.

Về con chung: quá trình chung sống chị D và anh D có 01 con chung là cháu Trần Đức L, sinh ngày 25 tháng 8 năm 2015

Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu giải quyết

Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề chung khác: chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.Ngoài ra chị D không yêu cầu gì thêm.

Đối với bị đơn anh Trần Ngọc D vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án vắng mặt không có lý do dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước phát biểu ý kiến xác định việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử về cơ bản là đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án về cơ bản đúng quy định của pháp luật trong Bộ luật tố tụng dân sự; đối với bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và có đơn xin giải quyết vắng mặt, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn theo đúng quy định.

Về nội dung giải quyết vụ án: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đào Thị Dung; về con chung, tài sản chung và các khoản nợ chung tòa án không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

Các tài liệu, chứng cứ của vụ án:

- 01 Bản sao chứng minh nhân dân của chị D

- 01 Bản chính giấy kết hôn số 57/2015 ngày 10/9/2015 do Ủy ban nhân dân Đồng Tâm, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước cấp cho chị Đào Thị D và anh Trần Ngọc D

- 01 Biên bản xác minh ngày 30/5/2017 về tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh D

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh:

- Về quan hệ hôn nhân: chị Đào Thị D và anh Trần Ngọc D chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy bản nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Bình Phước vào năm 2015.

- Về con chung:Có 1 con chung là cháu Trần Đức L

- Về tài sản chung: Các bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các tình tiết mà các bên đã thống nhất và không thống nhất được:

Nguyên đơn chị Đào Thị D yêu cầu Tòa án cho ly hôn với bị đơn anh Trần Ngọc D

Bị đơn anh D vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến về các vấn đề có tranh chấp trong vụ án.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1.Về thẩm quyền của tòa án:

Đây là vụ án tranh chấp ly hôn do nguyên đơn chị Đào Thị D thực hiện quyền khởi kiện. Do bị đơn anh Trần Ngọc D có nơi cư trú tại đội 6, ấp 2, xã T, huyện P, tỉnh Bình Phước nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Trước đây và tại phiên toà, nguyên đơn chị D vẫn giữa nguyên yêu cầu khởi kịên xin ly hôn bị đơn anh Trần Ngọc D.

2. Về hôn nhân: chị Đào Thị D và anh Trần Ngọc D chung sống với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Bình Phước vào năm 2015. Việc kết hôn tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị D và anh D hạnh phúc trong thời gian đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do chị D và anh D bất đồng quan điểm sống, anh D không chăm lo cuộc sống gia đình, thường xuyên bỏ nhà đi không có lý do về nhà gây sự đánh đập chị D. Do tình trạng mâu thuẩn kéo dài nên chị D và anh D đã sống ly thân từ tháng 4/2016. Nay xác định tình cảm dành cho anh D không còn nên chị D yêu cầu được ly hôn với anh bị đơn anh Trần Ngọc D. Đối với bị đơn anh Trần Ngọc D vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, không có bản tự khai trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn điều đó chứng tỏ anh D không tôn trọng đời sống hôn nhân của mình mặc nhiên đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn. Xét thấy, tình cảm của chị D dành cho anh D không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của cuộc hôn nhân giữa hai người không đạt được. Vì vậy, cần tuyên xử cho chị Đào Thị D được ly hôn với anh Trần Ngọc D theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về con chung: Không đặt ra vấn đề xem xét giải quyết do các bên đương sự không yêu cầu

4.Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm nguyên đơn phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và và điều 27 pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 8, 9, 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Tuyên xử cho chị Đào Thị D được ly hôn với anh Trần Ngọc D

2. Về con chung: Do các bên đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: Các bên không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Là 300.000 đồng,nguyên đơn chị Đào Thị D phải nộp được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0023967 ngày 07/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Nguyên đơn chị Đào Thị D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn Trần Ngọc D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương./.

Cỡ chữ