vanban.org

Bản án 32/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Dương Phương L khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi đối với bà Đặng Thị Kim C, ông Hoàng Minh X.

Buộc bà Đặng Thị Kim C, ông Hoàng Minh X có nghĩa vụ trả cho chị Dương Phương L số tiền nợ vốn vay 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng, số tiền nợ vốn hụi 7.210.000 (bảy triệu, hai trăm, mười nghìn) đồng và số tiền lãi 790.000 (bảy trăm, chín mươi nghìn) đồng, tổng cộng 28.000.000 (hai mươi tám triệu) … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dương Phương L - Đặng Thị Kim C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Dương Phương L khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi đối với bà Đặng Thị Kim C, ông Hoàng Minh X.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2017/DS-ST
Ngày: 21-7-2017
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
và hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiên Di.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Khắc Hòa;

Bà Phạm Thị Nhinh.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Trúc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2017/TLST-DS ngày 09 tháng 02 năm 2017 về “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2017/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2017/QĐST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Phương L, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: Hẻm số 07, đường P, tổ 06, khu phố 01, thị trấn T, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

- Bị đơn: Bà Đặng Thị Kim C, sinh năm 1966; địa chỉ cư trú: Tổ 03, khu phố 07, thị trấn T, huyện B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Minh X, sinh năm 1964; địa chỉ cư trú: Tổ 03, khu phố 07, thị trấn T, huyện B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khở i kiệ n ngày 06 tháng 02 năm 2017 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Dương Phương L trình bày:

Vào ngày 19/6/2016 âm lịch, bà C vay của chị L số tiền 20.000.000 đồng, có viết biên nhận nợ, thỏa thuận lãi suất 09%/tháng.

Ngày 19/01/2016 âm lịch, chị L tham gia chơi dây hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, do bà C làm chủ thảo. Dây hụi này có 26 phần hụi, chị L tham gia 01 phần, đóng hụi sống được 4.640.000 đồng thì bà C tuyên bố vỡ hụi.

Ngày 01/7/2016 âm lịch, chị L tham gia chơi dây hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, do bà C làm chủ thảo. Dây hụi này có 16 phần hụi, chị L tham gia 01 phần, đóng hụi sống được 2.570.000 đồng thì bà C tuyên bố vỡ hụi.

Như vậy, bà C nợ tiền vay 20.000.000 đồng và tiền hụi 7.210.000 đồng, tổng cộng 27.210.000 đồng. Nay chị L yêu cầu vợ chồng bà C, ông X cùng có nghĩa vụ trả số nợ vốn vay, vốn hụi là 27.210.000 đồng và yêu cầu tính lãi 790.000 đồng trên số tiền vay và tiền hụi còn nợ, tổng cộng vốn, lãi là 28.000.000 đồng.

Theo các lời khai tại Tòa án, bị đơn bà Đặng Thị Kim C trình bày:

Bà C thống nhất với lời trình bày của chị L, thừa nhận và đồng ý trả cho chị L 28.000.000 đồng. Bà C không đồng ý với yêu cầu của chị L buộc ông X trả nợ vì số nợ trên là do bà C trực tiếp giao dịch với chị L, ông X không biết mặt chị L cũng như không biết gì về số nợ trên.

Theo các lời khai tại Tòa án, bị đơn ông Hoàng Minh X trình bày:

Ông X không đồng ý trả nợ cho chị L vì ông X không biết mặt chị L cũng như không biết gì về số nợ trên, ông X không có vay tiền hay tham gia chơi hụi với chị L.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn chị Dương Phương L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn bà Đặng Thị Kim C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Minh X vắng mặt không có ý kiến trình bày. Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự tham gia tố tụng đã đảm bảo tuân thủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án xác định yêu cầu bà C, ông X trả số tiền nợ vay và nợ hụi cho chị L là có đủ cơ sở để xem xét chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L yêu cầu bà C, ông X trả số tiền nợ hụi, số tiền nợ vay và tiền lãi, tổng cộng là 28.000.000 đồng. Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Bị đơn bà Đặng Thị Kim C đã được triệu tập đúng quy định nhưng vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Minh X có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên.

. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Dương Phương L yêu cầ u bà Đặng Thị Kim C hoàn trả số tiền vay và tiền hụi tổng cộng 27.210.000 đồng là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ bà C thừa nhận và đồng ý trả số nợ trên, đây là tình tiết không phải chứng minh. Đối với yêu cầu ông Hoàng Minh X cùng có nghĩa vụ với bà C trả số nợ trên: Xét thấy số nợ phát sinh bà C thừa nhận sử dụng vào nhu cầu thiết yếu của gia đình, ông X cũng thừa nhận bà C bỏ tiền ra sửa chữa nhà để vợ chồng cùng ở chung, từ lúc bà C giao dịch với chị L cho đến hôm nay, giữa bà C và ông X vẫn còn là vợ chồng, do đó căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định đây là số nợ chung cả hai cùng có nghĩa vụ trả cho chị L.

. Về lãi suất: Chị Dương Phương L yêu cầu bà Đặng Thị Kim C, ông Hoàng Minh X trả số tiền lãi 790.000 đồng là không vượt quá quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí, bà C, ông X phải chịu 1.400.000 đồng án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 471, Điều 474, Điều 479 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu của chị Dương Phương L khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi đối với bà Đặng Thị Kim C, ông Hoàng Minh X.

Buộc bà Đặng Thị Kim C, ông Hoàng Minh X có nghĩa vụ trả cho chị Dương Phương L số tiền nợ vốn vay 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng, số tiền nợ vốn hụi 7.210.000 (bảy triệu, hai trăm, mười nghìn) đồng và số tiền lãi 790.000 (bảy trăm, chín mươi nghìn) đồng, tổng cộng 28.000.000 (hai mươi tám triệu) đồng.

Kể từ ngày chị Dương Phương L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Đặng Thị Kim C, ông Hoàng Minh X không chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng bà C, ông X phải trả cho chị L số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí: Bà Đặng Thị Kim C, ông Hoàng Minh X phải chịu 1.400.000 (một triệu, bốn trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho chị Dương Phương L số tiền tạm ứng án phí đã nộp 680.000 (sáu trăm, tám mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số 0003825 ngày 09/02/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ