- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Th xin ly hôn Hồ Văn Th"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Hồ Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31A/2021/HNGĐ-ST Ngày: 24-8-2021 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng
Ông Phạm Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Vinh Hiển - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2021, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 87/2020/HNGĐ- ST, ngày 24 tháng 11 năm 2020. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2021/QĐXX - HNGĐ, ngày 15/3/2021 và Thông báo về việc mở lại phiên toà số 37/2021/TB-TA ngày 06/8/2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh H (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Hồ Văn T, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh H (Hiện đang Lao động tại Hàn Quốc
- Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai c tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thương trình ày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Hồ Văn Th là vợ chồng c đăng ký kết hôn vào ngày 30/12/2014 tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà. Việc kết hôn giữa hai người là hoàn toàn tự nguyện không ị ai ép uộc, thời gian đầu cuộc sống chung giữa chị và anh Hồ Văn T diễn ra hạnh phúc. Năm 2016, anh Hồ Văn Th đi lao động ở Hàn Quốc, khoảng cách về địa lý nên hai người không không c điều kiện về thời gian để chăm s c nhau. Từ năm 2018, tình cảm vợ chồng ắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên thường xuyên cãi vả, khác iệt về lối sống và suy nghĩ dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, kh hàn gắn được với nhau. Nay chị Nguyễn Thị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Văn T để hai ên sớm ổn định cuộc sống.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng không c con chung
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T. Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Hồ Văn T; Về con chung, tài sản chung và nợ chung không c nên miễn xét. Về án phí uộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
1. Về tố tụng:
Bị đơn anh Hồ Văn T hiện đang lao động tự do tại Hàn Quốc không c địa chỉ cụ thể. Tại công văn số 22484/QLXNC - P5, ngày 01/12/2020 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an, xác nhận anh Hồ Văn T, sinh ngày 27/10/1992 đã xuất nhập cảnh 07 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 22/8/2016, hiện chưa c thông tin nhập cảnh về nước. Do đ , vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
Theo trình ày của nguyên đơn thì hiện nay anh Hồ Văn T đang lao động tại Hàn Quốc, nhưng chị không iết địa chỉ cụ thể của anh T để cung cấp cho tòa án. Do đ , để đảm ảo giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật, Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin qua người thân của anh Hồ Văn T là à Ngô Thị H (mẹ đẻ anh T). Theo đ , tại Biên ản xác minh ngày 10/3/2021 và ngày 16/3/2021, bà Ngô Thị H cho iết anh Hồ Văn T là con trai bà, anh T và chị Nguyễn Thị T là vợ chồng c đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại UBND xã Kỳ Đ. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh Thiện về sống chung cùng vợ chồng à tại thôn Đ, xã Kỳ Đ, huyện K. Năm 2015, chị T ra Thái Nguyên làm ăn, thỉnh thoảng c về thăm gia đình, còn anh T thì sang Nhật Bản làm ăn từ năm 2016 cho đến nay chưa về thăm gia đình lần nào. Anh T chủ yếu liên lạc với gia đình qua điện thoại, còn về địa chỉ cụ thể của anh T như thế nào tại Hàn Quốc thì bà không iết vì anh T không nói nên à không thể cung cấp được cho Tòa án. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T thì bà H không iết. Sau khi nhận được thông áo thụ lý vụ án ly hôn giữa chị T và anh T do Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh gửi về, gia đình à H đã thông tin cho anh T được iết. Qua điện thoại, anh T c trao đổi với gia đình là việc ly hôn giữa chị T và anh T thì chờ anh về rồi giải quyết vì hiện nay anh chưa thể về được. Còn về con chung, tài sản chung trong quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh T không có. Tại uổi làm việc với à Ngô Thị H, cán ộ Tòa án c đề nghị à kết nối điện thoại với anh T để Tòa án làm việc với anh nhưng à H từ chối. Vì vậy, căn cứ Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn c ị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ nên Toà án tiến hành xét xử vắng anh Hồ Văn Th theo quy định.
Đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị T, hiện chị đã nhận được Thông áo mở lại phiên tòa giữa chị và anh Hồ Văn T. Tuy nhiên, do tình hình diễn iến dịch Covid-19 đang phức tạp và chị thì đang làm ăn ở Thái Nguyên nên không thể về để tham gia phiên tòa. Vì vậy, chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, còn các yêu cầu tòa án giải quyết, chị vẫn giữ nguyên như đơn khởi kiện đã trình bày. Do đ , căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng chị Nguyễn Thị T theo quy định pháp luật.
2. Về nội dung:
Về tình cảm: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Hồ Văn T đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 30/12/2014 tại UBND xã K, huyện K, tỉnh H. Do đ , căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Hồ Văn T là hợp pháp.
Xét về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị T và anh Hồ Văn T thấy rằng: sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu. Năm 2015 chị T ra Thái Nguyên làm ăn và năm 2016 thì anh Hồ Văn T đi lao động ở Hàn Quốc, do khoảng cách về địa lý nên hai người không không c điều kiện để quan tâm, chăm s c lẫn nhau. Tình cảm vợ chồng ắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018, nguyên nhân do hai ên thường xuyên cãi vả, khác iệt về lối sống và suy nghĩ dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn và cho đến nay giữa hai người không còn quan tâm, liên lạc gì với nhau nữa.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình tiến ộ, hạnh phúc, vợ chồng tôn trọng, chia sẽ, chăm s c, giúp đỡ lẫn nhau nhưng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Hồ Văn T đã không đạt được mục đích đ , mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Do đ , căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn” nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T và anh Hồ Văn T để mỗi người sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không c và không yêu cầu tòa án giải quyết nên miễn xét.
3. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo ản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 56, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 28, 37, 227, 273, 479, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Hồ Văn T.
2. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo iên lai số AA/2019/0000078 ngày 23/11/2020 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn c quyền kháng cáo ản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được ản án. Bị đơn c quyền kháng cáo ản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được ản án hoặc kể từ ngày ản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - UBND xã Kỳ Đồng; - Đương sự; - Lưu HS, TDS. | TM HỘI Đ NG X T X Th m phán - Ch toạ phiên toà Nguyễn Thị Thương Huyền |