- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hính sự sơ thẩm đối với bị cáo Phan Anh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Anh Tphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:319/2021/HSST Ngày: 31/8/2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P- TỈNH THANH HOÁ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Luận
Ông Lê Cát Tưởng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Xuân – Thư ký tòa án nhân dân Thành phố P, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố P tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố P, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 316/2021/TLST-HS ngày 04/8/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 309/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Anh Tuấn
Sinh năm: 1987
HKKT: SN 93 phố L, thị trấn Tr, huyện Tr, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Số nhà 143B đường P1, phường S, Thành phố P, tỉnh Thanh Hóa;Nghề nghiệp: Lao động tự do;Văn Hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Phan Xuân H, sinh năm 1959; Con bà: Nguyễn Thị B , sinh năm:1961; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út; chưa có vợ; Nhân thân: - Năm 2007 bị Tòa án nhân dân huyện Tr tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc”; - Năm 2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;- Năm 2016 bị Công an huyện Tr xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” và “ Sử dụng công cụ hỗ trợ trái quy định”; Tiền sự: Không; Tiền án: Năm 2018 bị Tòa án nhân dân Thành phố P xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành án xong ngày 29/4/2020.Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/4/2021 đến ngày 30/4/2021 chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18h45 phút ngày 27/4/2021 Tổ công tác phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thanh Hóa phối hợp cùng công an phường Đ, Thành phố P, tỉnh Thanh Hóa làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực thôn T1, phường Đ, TP P, Thanh Hóa kiểm tra và phát hiện bắt quả tang đối với Phan Anh T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại chỗ Tđã tự giác giao nộp 05 túi nilong màu trắng T [cất sau ghế phụ xe ô tô KIA màu xanh, gắn BKS 36LD-0043 mà T điều khiển, gồm : - 01 túi nilon màu trắng, có viền xanh kích thước khoảng 03x04cm, đựng chất tinh thể màu trắng T khai là Ketamine;- 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 04x06cm, đựng chất tinh thể màu trắng Tkhai là ma túy đá;- 01 túi nilon màu trắng, có viền xanh kích thước khoảng 03x04cm, đựng 17 (mười bảy) viên nén hình trụ tròn màu hồng, Tkhai là 17 viên hồng phiến; - 01 túi nilon màu trắng có viền đỏ, kích thước khoảng 2x3cm, đựng 02 viên nén màu vàng, Tkhai là 02 viên kẹo (ma túy tổng hợp);-01 túi nilon màu trắng, có viền xanh kích thước khoảng 02x02cm, đựng 01 viên nén màu cam, Tkhai là 01 viên kẹo (ma túy tổng hợp). Tkhai nhận đó là 05 gói ma túy Tcất giấu với mục đích sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ. Tổ công tác đã lập biên bản và thu giữ tang vật.
Tại cơ quan điều tra, Phan Anh Tkhai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Do bản thân nghiện ma túy, chiều ngày 25/4/2021 Tđã một mình đến khu vực gầm cầu vượt B, phường B, thị xã B1, Thanh Hóa tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây Tđã mua 05 gói ma túy của một người đàn ông không quen biết, không biết địa chỉ tên C với giá 4.800.000đ. Sau khi mua được ma túy, Tcất giấu 05 gói ma túy vào ghế phụ sau xe ô tô KIA màu xanh, gắn BKS 36LD-0043 . Đến ngày 27/4/2021 trên đường đi từ Nh về Thành phố P, khi đến khu vực cánh đồng T1, phường Đ, TP P, thấy khu vực này vắng người nên định dừng xe để sử dụng thì bị tổ công tác phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thanh Hóa. kiểm tra, phát hiện, thu giữ.
Tại bản kết luận giám định số 1513/PC09 ngày 29/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: - 17 viên hình trụ tròn màu hồng của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,801g (một phẩy tám không một gam) loại: Methamphetamine;
- 02 viên nén màu vàng nhạt của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,249g (một phẩy hai bốn chín gam) loại: MDMA;
- 01 viên nén màu cam của phong bì niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,405g (không phẩy bốn không năm gam) loại: MDMA;
- Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M4 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,866g (không phẩy tám sáu sáu gam) loại: Ketamine;
- Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M5 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 3,622g (ba phẩy sáu hai hai gam) loại: Methamphetamine (bút lục: 82,83).
Tổng trọng lượng ma túy Tcất giữ gồm: 5,423g (năm phẩy bốn hai ba gam) Methamphetamine; 1,654g (Một phẩy sáu năm bốn gam) MDMA; 0,866g (Không phẩy tám sáu sáu gam) Ketamine.
Căn cứ lời khai của Phan Anh T về người đàn ông tên C đã bán ma túy cho Ttại khu vực khu vực gầm cầu vượt B, phường B, thị xã B1, Thanh Hóa . Cơ quan điều tra đã xác minh tại khu vực trên không có người đàn ông nào tên C nào có đặc điểm như Tkhai. Việc Tmua ma túy của người này không có ai chứng kiến, cũng không có tài liệu nào chứng minh nên không có căn cứ để xác minh xử lý.
Đối với chiếc điện thoại IPHONE 11 PROMAX và chiếc điện thoại NOKIA 105 Tkhai không sử dụng để mua và tàng trữ ma túy, đề nghị được trả lại, qua kiểm tra không phát hiện thông tin liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Chiếc xe ô tô KIA màu xanh, gắn BKS 36LD-0043 Tsử dụng để tàng trữ ma túy Tkhai mua của một người đàn ông tên B2 ở khu vực huyện Nh, không biết rõ địa chỉ, nhân thân cách đó khoảng nửa tháng, giấy tờ xe theo Tkhai đã làm mất nên không nhớ tên chủ xe cũng không có căn cứ nào chứng minh xe thuộc sở hữu của Tuấn. Qua tra cứu và xác minh không có trong cơ sở dữ liệu ô tô vật chứng, chủ xe là Công ty KUKDONG CO,LTD, địa chỉ: Làng V, Đông V1, Đ, Thanh Hóa và Công ty này đã đi khỏi địa phương cách đây hơn 20 năm
Tại bản Cáo trạng số 207/CTr-VKS ngày 21 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Phan Anh Tvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả giám định số ma túy trên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 6 năm 6 tháng đến 7 năm tù.
Về tang vật: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, trả lại chiếc điện thoại IPHONE 11 PROMAX và chiếc điện thoại NOKIA 105 và giao chiếc xe ô tô KIA màu xanh, gắn BKS 36LD-0043 cho cơ quan điều tra để xử lý giải quyết theo thẩm quyền; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, Lời nói sau cùng đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra và các vật chứng thu được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận: Vào khoảng 18 giờ 45 phút ngày 27/4/2021, tại khu vực thôn T1, phường Đ, TP P. Tổ công tác phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thanh Hóa làm nhiệm vụ đã phát hiện và bắt quả tang Phan Anh Tđang có hành vi tàng trữ trái phép 05 gói ma túy. Kết luận giám định số ma túy thu được của Phan Anh Tcó khối lượng là 5,423gam ma túy loại Methamphetamine; 1.654 gam ma túy loại MDMA và 0,866 gam ma túy loại Ketamine (trong đó: tỷ lệ phần trăm về khối lượng ma túy loại Methamphetamine là 18,08%, tỷ lệ phần trăm về khối lượng ma túy loại MDMA là 5.51% và tỷ lệ phần trăm về khối lượng ma túy loại Ketamine là 0,866% ). .Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ- CP ngày 02/02/2018 quy định thì tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy trong trường hợp này dưới 100% thuộc trường hợp quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015.
Bị cáo nhận thức được việc “tàng trữ trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Khi phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS. Ý thức chủ quan của bị cáo là tàng trữ ma túy để sử dụng nên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp
Vì vậy, hành vi của bị cáo Phan Anh Tđã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân đã ngang nhiên mua ma túy về sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an chung cần phải xử lý nghiêm.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị các cơ quan pháp luật cải tạo, giáo dục nhiều lần nhưng không chịu cải sửa mà còn tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật. Do bị cáo đã có một tiền án về tội ma túy chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
Với nhân thân, tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì việc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng không có tính chất vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 BLHS và khoản 1, 2,3 Điều 106 BLTTHS. Các vật chứng thu được đang nộp Chi cục thi hành án dân sự Thành phố P theo Biên bản giao nhận vật chứng số 221/2020/THA ngày 06/8/2021 được xử lý như sau: số ma túy còn lại sau giám định tịch thu tiêu hủy; Đối với chiếc xe ô tô KIA màu xanh, gắn BKS 36LD-0043 thu của bị cáo Tkhai mua của người đàn ông tên B2 ở khu vực huyện Nh, không biết rõ địa chỉ, nhân thân cách đó khoảng nửa tháng, giấy tờ xe theo Tkhai đã làm mất. Cơ quan điều tra đã xác minh và tra cứu không phải là xe ô tô vật chứng, chủ xe là Công ty KUKDONG CO,LTD, địa chỉ: Làng V, Đông V1, Đ, Thanh Hóa và Công ty này đã đi khỏi địa phương cách đây hơn 20 năm. HĐXX xét thấy bị cáo T mặc dù đã dùng chiếc xe để tàng trữ ma túy nhưng cũng không đủ căn cứ để tịch thu sung quỹ nhà nước, mặt khác vì xe không có giấy tờ và T cũng không xuất trình được tài liệu chứng minh quyền sở hữu hợp pháp của mình nên cũng không có cơ sở để trả lại xe cho bị cáo mà cần giao cho Cơ quan điều tra để xử lý giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với chiếc điện thoại IPHONE 11 PROMAX màu xanh sẫm và chiếc điện thoại NOKIA không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 46, 47 BLHS; Khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ- CP của Chính phủ ; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án, phí lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Anh Tphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Phan Anh T 7 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 27/4/2021.
Về vật chứng: Các vật chứng thu được đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố P theo Biên bản giao nhận vật chứng số 221/THA ngày 06/8/2021, được xử lý như sau:
- Tịch thu và tiêu hủy số ma túy theo mục 1 của Biên bản giao nhận vật chứng
- Trả lại cho bị cáo 02 điện thoại (đã cũ) theo mục 2, 3 của Biên bản giao nhận vật chứng.
- Giao 01xe ô tô nhãn hiệu KIA, màu xanh, Biển kiểm soát: 36LD – 0043, số máy: 017713, số khung: 768829 theo mục 4 Biên bản giao nhận vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP P để giải quyết theo thẩm quyền.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND, TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND Thành phố P; - Công an Thành phố P; - Thi hành án HS, DS tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Long |