vanban.org

Bản án 318/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 18/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Dương Trường T, Nguyễn Trung H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Bị cáo Dương Trường T 10 (Mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/3/2024. Bị cáo Nguyễn Trung H 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/3/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Các bị cáo Dương Trường T và Nguyễn Trung H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Dương Trường T, Nguyễn Trung H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 318/2024/HS-ST
Ngày 18-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Thiên Nga

Bà Hà Thị Mão

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Trọng Kiên - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 305/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 790/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Dương Trường T, sinh ngày 24 tháng 9 năm 1990 tại Hải Phòng. Nơi thường trú: Phường H, quận H1, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Anh T và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị Hải Y (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 26/3/2024, tạm giam ngày 04/4/2024; có mặt.

2. Nguyễn Trung H, sinh ngày 18 tháng 02 năm 1998 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Đường Q, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Hoàng Thị N; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 199 ngày 20/9/2021, Phòng PC04 Công an thành phố Hải Phòng xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa); bị bắt, tạm giữ ngày 26/3/2024, tạm giam ngày 04/4/2024; có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Đức M; vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Thế H1; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/3/2024 tại khu vực trước cửa tòa nhà SHP số 12 Lạch Tray, phường Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Công an quận Ngô Quyền phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Trung H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ: trong ba lô H để ở võng xe 01 gói nilon kích thước 08x10cm bên trong có 05 điếu cuộn bằng giấy, mỗi điếu dài khoảng 7cm, bên trong đều chứa thực vật khô vụn (niêm phong mẫu QT), 01 điện thoại Iphone màu xanh và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen đỏ BKS: 15B2-805.53.

Nguyễn Trung H khai nhận: H và Dương Trường T có mối quan hệ bạn bè với nhau. Từ đầu năm 2024, H biết T có bán ma túy cần sa nên nảy sinh ý định mua ma túy của T về bán kiếm lời. H đã nhiều lần mua bán cần sa nhưng không nhớ cụ thể. H chỉ nhớ các lần như sau:

- Ngày 19/3/2024, tại khu vực đường Dân Lập, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, H mua của T 01 gói ma túy cần sa với giá 1.200.000 đồng, sau đó mang về nhà xay nhỏ, cuộn được khoảng 45 đến 50 điếu. H bán với giá 100.000 đồng/điếu. Bán trót lọt số ma túy trên, H hưởng lợi được khoảng từ 3.300.000 đồng đến 3.800.000 đồng. H không nhớ đã bán số ma túy này cho những ai. H chỉ nhớ ngày 24/3/2024 và ngày 25/3/2024, tại khu vực bờ hồ Tam Bạc, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, H đã bán cho bạn là Nguyễn Đức M mỗi lần 02 điếu với giá 200.000 đồng.

- Khoảng 15 giờ ngày 26/3/2024, tại khu vực cuối đường Đinh Nhu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, H gặp và mua của T 01 gói ma túy cần sa với giá 1.200.000 đồng. Khoảng 17 giờ cùng ngày, một người bạn tên Thành gọi điện cho H qua ứng dụng Messenger hỏi mua của H 04 điếu cần sa. H đồng ý, hẹn giao dịch tại khu vực tòa nhà SHP, số 12 Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Sau đó, H dùng giấy cuộn được 05 điếu (04 điếu bán cho Thành, còn 01 điếu ai hỏi mua sẽ bán), cất giấu trong ba lô và điều kH1 xe mô tô BKS: 15B2-805.53 đến điểm hẹn. Khi H đang đứng đợi Thành thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Trung H không thu giữ, đồ vật gì liên quan. Căn cứ lời khai của Nguyễn Trung H và các tài liệu liên quan, ngày 26/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền thực hiện Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Dương Trường T, thu giữ của T 01 điện thoại Iphone XS màu trắng.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Dương Trường T ở số 72 Dân Lập, phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, cơ quan Công an thu giữ trên mặt bàn trong góc nhà cạnh cầu thang trên tầng 02: 01 gói nilon kích thước khoảng 08x12cm bên trong có 08 điếu cuộn bằng giấy màu nâu, mỗi điếu dài khoảng 7cm bên trong đều chứa thực vật khô vụn (niêm phong mẫu KX1), 01 cân điện tử, 01 máy xay; thu trong thùng giấy kích thước khoảng 30x45x50cm đặt dưới bàn góc cầu thang tầng 02: 01 lọ thủy tinh có nắp đậy màu tím, bên trong chứa thực vật khô (niêm phong mẫu KX2), 01 gói nilon kích thước khoảng 20x30cm bên trong chứa cục thực vật khô (niêm phong mẫu KX3), 01 lọ thủy tinh có nắp đậy màu nâu, bên trong chứa thực vật khô (niêm phong mẫu KX4), nhiều vỏ gói nilon kích thước các loại; thu trong túi xách màu xanh trên ghế cạnh cầu thang tầng 02 nhiều hộp giấy cuộn; thu trong phòng cạnh phòng ngủ tầng 02: 10 cây thực vật xanh có đủ rễ, thân, lá, cành (niêm phong mẫu KX5), 02 dàn đèn cH sáng, 01 kéo kim loại.

Thực hiện kiểm tra điện thoại của Nguyễn Trung H, Dương Trường T phát hiện trong ứng dụng Messenger có một số tin nhắn nội dung liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Kết quả giám định điện thoại đã thu giữ của các đối tượng không phát hiện dữ liệu khác liên quan đến vụ án. Xét nghiệm nhanh nước tiểu của Nguyễn Trung H, Dương Trường T đều cho kết quả dương tính với test thử chất ma túy Cần sa (THC).

Tại Kết luận giám định số 372/KL-KTHS ngày 31/3/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Thực vật khô, vụn của mẫu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,52 gam, loại cần sa (hoa, lá cây cần sa). Thực vật khô, vụn của mẫu KX1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,33 gam, loại cần sa (hoa, lá cây cần sa). Thực vật khô, vụn của mẫu KX2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 66,38 gam, loại cần sa (hoa, lá cây cần sa). Thực vật khô của mẫu KX3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 100,41 gam, loại cần sa (hoa, lá cây cần sa). Thực vật khô của mẫu KX4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 11,82 gam, loại cần sa (hoa, lá cây cần sa). 10 cây thực vật tươi của mẫu KX5 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 6507,37 gam, loại cây cần sa.

Ngoài ra, T còn khai: Vào khoảng tháng 12 năm 2023, T nảy sinh ý định trồng cây cần sa để thu hoạch bán kiếm lời. T đặt mua qua mạng 10 hạt cây cần sa với giá 2.400.000 đồng. Sau đó, T gieo hạt vào 10 chậu đặt trong phòng cạnh phòng ngủ của T ở tầng 02 để hàng ngày chăm sóc. Trong thời gian chờ thu hoạch, T liên hệ với một người sử dụng tài khoản Telegram “Cô tiên xanh” để mua ma túy cần sa khô về bán. Người này báo giá cho T là 100 gam ma túy cần sa loại “out” (tức loại cần sa được trồng ngoài trời) có giá 5.000.000 đồng, 100 gam ma túy cần sa loại “in” (tức loại cần sa được trồng trong nhà) có giá 10.000.000 đồng. Phương thức giao dịch bằng hình thức người mua sẽ trả tiền qua dịch vụ chuyển tiền 24 giờ, khoảng 04 đến 05 ngày sau khi trả tiền, người bán sẽ gửi hàng được bọc trong bìa cát tông và bảo T ra khu vực bến xe Niệm Nghĩa nhận. Mua được ma túy, T mang về nhà cất giấu. Với 10 gam ma túy cần sa loại “out” T bán với giá 1.000.000 đồng, 10 gam ma túy cần sa loại “in” T bán với giá 1.800.000 đồng. Trường hợp khách muốn mua cần sa dưới dạng điếu cuộn, T sẽ xay nhỏ cần sa loại “in”, cứ 10 gam T cuộn được khoảng 30 điếu, bán với giá 100.000 đồng/điếu. Nếu bán trót loạt 100 gam ma túy cần sa loại “out” T hưởng lợi 5.000.000 đồng. Nếu bán trót lọt 100 gam ma túy cần sa loại “in” theo gam T hưởng lợi 8.000.000 đồng, còn bán theo điếu T hưởng lời 20.000.000 đồng. Ngoài bán ma túy cho H, T còn bán cho một vài khách nhưng T không nhớ cụ thể, T chỉ nhớ ngày 06/3/2024 tại khu vực trước số 39 đường Cầu Đất, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng và ngày 09/3/2024 tại khu vực trước số 17 đường Trần Quang Khải, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, T bán cho bạn là Nguyễn Thế H1 mỗi lần 1.500.000 đồng ma túy cần sa nhưng T không nhớ khối lượng cụ thể là bao nhiêu.

Nguyễn Đức M, Nguyễn Thế H1 khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, M, H1 đã liên lạc hỏi mua của H, T. Số ma túy trên, M, H1 đã sử dụng một mình hết.

Về việc xử lý vật chứng:

- Đối với máy xay, giấy cuộn và số ma túy Nguyễn Trung H mua của Dương Trường T ngày 26/3/2024, H khai cất giấu ở nhà nhưng Cơ quan điều tra không thu giữ được.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen đỏ BKS: 15B2-805.53 kết quả xác minh tên chủ xe là Nguyễn Trung H, 01 thùng giấy dán kín còn nguyên niêm phong số 372MT/PC09 bên trong chứa 0,67 gam thực vật khô vụn của mẫu QT1; 1,53 gam thực vật khô vụn của mẫu KX1; 61,88 gam thực vật khô của mẫu KX2; 92,81 gam thực vật khô của mẫu KX3; 9,22 gam thực vật khô của mẫu KX4; 5805,68 gam thực vật tươi của mẫu KX5 cùng toàn bộ vỏ bao gói của các mẫu vật; 01 cân tiểu ly, 01 máy xay, nhiều hộp giấy cuộn, nhiều vỏ gói nilon kích thước các loại, 02 dàn đèn cH sáng, 01 kéo kim loại, 01 lọ thủy tinh có nắp đậy màu tím, 01 lọ thủy tinh có nắp đậy màu nâu, 01 điện thoại di động Iphone màu trắng và 01 điện thoại di động Iphone màu xanh chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng quản lý.

Tại Bản cáo trạng số 307/CT-VKSNQ ngày 19/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Dương Trường T và Nguyễn Trung H về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Dương Trường T mức án từ 10 năm đến 11 năm tù; bị cáo Nguyễn Trung H mức án từ 08 năm đến 09 năm tù đều về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Nguyễn Trung H có tài sản riêng là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen đỏ BKS: 15B2-805.53 nên căn cứ khoản 5 Điều 251; Điều 35 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Trung H từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo Dương Trường T do bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 thùng giấy dán kín còn nguyên niêm phong số 372MT/PC09 bên trong chứa 0,67 gam thực vật khô vụn của mẫu QT1; 1,53 gam thực vật khô vụn của mẫu KX1; 61,88 gam thực vật khô của mẫu KX2; 92,81 gam thực vật khô của mẫu KX3; 9,22 gam thực vật khô của mẫu KX4; 5805,68 gam thực vật tươi của mẫu KX5 cùng toàn bộ vỏ bao gói của các mẫu vật; 01 cân tiểu ly, 01 máy xay, nhiều hộp giấy cuộn, nhiều vỏ gói nilon kích thước các loại, 02 dàn đèn cH sáng, 01 kéo kim loại, 01 lọ thủy tinh có nắp đậy màu tím, 01 lọ thủy tinh có nắp đậy màu nâu. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu trắng và 01 điện thoại di động Iphone màu xanh. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen đỏ BKS: 15B2-805.53 nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Buộc bị cáo Dương Trường T nộp lại số tiền bán ma túy là 4.200.000 đồng, buộc bị cáo Nguyễn Trung H nộp lại số tiền bán ma túy là 400.000 đồng và 1.200.000 đồng là tiền mua ma túy chưa trả cho bị cáo T, tổng cộng là 1.600.000 đồng.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về sự vắng mặt của người làm chứng: Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Từ ngày 06/3/2024 đến ngày 26/3/2024, Dương Trường T 04 lần bán trái phép chất ma túy cần sa, cụ thể: Ngày 06/3/2024 tại trước số 39 đường Cầu Đất, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng và ngày 09/3/2024 tại trước số 17 đường Trần Quang Khải, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, T bán trái phép cho Nguyễn Thế H1 mỗi lần 1.500.000 đồng; ngày 19/3/2024 tại khu vực đường Dân Lập, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và ngày 26/3/2024 tại khu vực đường Đinh Nhu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, T bán trái phép cho Nguyễn Trung H mỗi lần 1.200.000 đồng, khối lượng ma túy thu giữ được là 6.689,83 gam (gồm 1,52 gam ma túy thu giữ của H và 6.688,31 gam thu giữ tại nhà của T).

Từ ngày 24/3/2024 đến ngày 26/3/2024, Nguyễn Trung H 03 lần bán trái phép chất ma túy cần sa, cụ thể: Ngày 24/3/2024 và ngày 25/3/2024 tại khu vực bờ hồ Tam Bạc, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, H bán trái phép cho Nguyễn Đức M mỗi lần 02 điếu cần sa với giá 200.000 đồng; ngày 26/3/2024, khi H mang ma túy bán cho đối tượng tên Thành tại khu vực trước tòa nhà SHP số 12 đường Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhưng chưa kịp giao thì bị Công an quận Ngô Quyền bắt quả tang, khối lượng ma túy thu giữ được là 1,52 gam.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Dương Trường T, Nguyễn Trung H đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

- Về nhân thân:

Các bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo Nguyễn Trung H tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 199 ngày 20/9/2021, Phòng PC04 Công an thành phố Hải Phòng xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thi hành xong ngày 20/9/2021 nên được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng cần xem xét, đánh giá khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm; trong đó, mức hình phạt đối với T là cao hơn mức hình phạt đối với bị cáo H.

- Về hình phạt bổ sung:

Do bị cáo Nguyễn Trung H có tài sản riêng là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen đỏ BKS: 15B2-805.53 nên căn cứ khoản 5 Điều 251; Điều 35 Bộ luật Hình sự cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo Dương Trường T do bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định.

- Về việc xử lý vật chứng:

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Cần tịch thu tiêu huỷ 01 thùng giấy dán kín còn nguyên niêm phong số 372MT/PC09 bên trong chứa 0,67 gam thực vật khô vụn của mẫu QT1; 1,53 gam thực vật khô vụn của mẫu KX1; 61,88 gam thực vật khô của mẫu KX2; 92,81 gam thực vật khô của mẫu KX3; 9,22 gam thực vật khô của mẫu KX4; 5805,68 gam thực vật tươi của mẫu KX5 cùng toàn bộ vỏ bao gói của các mẫu vật; 01 cân tiểu ly, 01 máy xay, nhiều hộp giấy cuộn, nhiều vỏ gói nilon kích thước các loại, 02 dàn đèn cH sáng, 01 kéo kim loại, 01 lọ thủy tinh có nắp đậy màu tím, 01 lọ thủy tinh có nắp đậy màu nâu. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu trắng và 01 điện thoại di động Iphone màu xanh. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen đỏ BKS: 15B2-805.53 nhưng cần tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án. Buộc bị cáo Dương Trường T nộp lại số tiền bán ma túy là 4.200.000 đồng, buộc bị cáo Nguyễn Trung H nộp lại số tiền bán ma túy là 400.000 đồng và 1.200.000 đồng là tiền mua ma túy chưa trả cho bị cáo T, tổng cộng là 1.600.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

- Về án phí:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, các bị cáo Dương Trường T, Nguyễn Trung H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng sử dụng tài khoản Telegram “Cô tiên xanh” là người bán ma túy cho T và đối tượng tên Thành là người mua ma túy của H, quá trình điều tra chưa xác minh được căn cước, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý.

Đối với Nguyễn Đức M, Nguyễn Thế H1 là người mua ma túy của H, T nhưng đã sử dụng hết nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Các bị cáo Dương Trường T, Nguyễn Trung H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt:

+ Bị cáo Dương Trường T 10 (Mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/3/2024.

+ Bị cáo Nguyễn Trung H 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/3/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251; Điều 35 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Trung H 5.000.000 (Năm triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 thùng giấy dán kín còn nguyên niêm phong số 372MT/PC09 bên trong chứa 0,67 gam thực vật khô vụn của mẫu QT1; 1,53 gam thực vật khô vụn của mẫu KX1; 61,88 gam thực vật khô của mẫu KX2; 92,81 gam thực vật khô của mẫu KX3; 9,22 gam thực vật khô của mẫu KX4; 5805,68 gam thực vật tươi của mẫu KX5 cùng toàn bộ vỏ bao gói của các mẫu vật; 01 cân tiểu ly, 01 máy xay, nhiều hộp giấy cuộn, nhiều vỏ gói nilon kích thước các loại, 02 dàn đèn cH sáng, 01 kéo kim loại, 01 lọ thủy tinh có nắp đậy màu tím, 01 lọ thủy tinh có nắp đậy màu nâu. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu trắng thu giữ của Dương Trường T và 01 điện thoại di động Iphone màu xanh thu giữ của Nguyễn Trung H. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen đỏ BKS: 15B2-805.53 theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhưng tạm giữ lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen đỏ BKS: 15B2-805.53 để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo Dương Trường T phải nộp lại số tiền 4.200.000 (Bốn triệu hai trăm nghìn) đồng, bị cáo Nguyễn Trung H phải nộp lại số tiền 1.600.000 (Một triệu sáu trăm nghìn) đồng sung công quỹ Nhà nước.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Dương Trường T và Nguyễn Trung H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ