- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn Anh phạm tôi tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 318/2018/HS-ST Ngày: 23 - 11 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Vĩ.
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Hoàng Văn Mầm.
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Ánh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột: Ông Y Lương Byă-Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 308/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 300/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2018, đối với bị cáo:
Nguyễn Tuấn A; Giới tính:Nam;Tên gọi khác: Không;Sinh ngày 02 tháng 7 năm 1988; Tại: tỉnh Đắk Lắk;Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;Nghề nghiệp: Không;Trình độ học vấn:12/12;Con ông:Nguyễn Đình P(đã chết); con bà: Bùi Thị N, sinh năm 1961, hiện cư trú tại: xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;Bị cáo có vợ tên Trần Thị Mỹ N(đã ly hôn), có 02 con; Tiền án: 03 tiền án; tiền sự: Không;
Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống cùng gia đình tại xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Được gia đình nuôi ăn học đến lớp 12/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình.
Ngày 18/12/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 01năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 12/11/2010 chấp hành xong hình phạt tù.
Ngày 22/8/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 11/7/2014 chấp hành xong hình phạt tù.
Ngày 22/8/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 20/5/2017 chấp hành xong hình phạt tù thuộc trường hợp tái phạm chưa được xóa án tích.
Ngày 31/8/2018 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị bắt tạm giữ đến ngày 07/9/2018 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, khởi tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
-Người làm chứng:
1.Bà Triệu Mùi N-sinh năm:1999; địa chỉ: xã C, huyện K, tỉnh Đăk Lăk(Vắng mặt).
2.Bà Đinh Vũ Mai T; sinh năm 1977; địa chỉ: 04 Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tuấn A là đối tượng nghiện ma túy và có 02 tiền án chưa được xóa án tích. Vào khoảng 15 giờ ngày 31/8/2018, Nguyễn Tuấn A đi xe thồ từ đường Y Wang, phường Ea Tam đến khu vực nghĩa địa cũ đường Phan Bội Châu, phường Thành Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk để mua ma túy. Khi đến nơi, Tuấn A một mình đi bộ vào trong gặp một người nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ny lon chứa ma túy đá với số tiền 1.700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Tuấn Anh đi xe thồ đến nhà nghỉ Phước Thi tại địa chỉ số 170/10 Lê Duẩn, phường Tân Thành, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk phát hiện, bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tang vật thu giữ gồm: 01 gói nylon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể được niêm phong theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số 786/GĐMT-PC09 ngày 06/9/2018, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chất rắn dạng tinh thể đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 2,3879 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 316/CT-VKS ngày 31 tháng 10 năm 2018, Viện Kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm 0, khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tp. Buôn Ma Thuột giữ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A như bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Áp dụng Điểm 0, khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 06 năm đến 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
Bị cáo Nguyễn Tuấn A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.
Đối với nguồn Methamphetamine bị cáo khai nhận mua của người nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch). Do chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã tách hành vi bán trái phép chất ma túy của người này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định.
Đối với 2,3387 gam ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định và 01 ống tròn thủy tinh là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng; số Imei: 358753055655023, kèm sim số 0945730916 là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Tuấn A không tranh luận gì thêm thừa nhận hành vi phạm tội của mình đã gây ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ nhất vì bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒ A Á N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Tp. Buôn Ma Thuột, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột; Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối chiếu lời khai của Nguyễn Tuấn A tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo, người làm chứng trong quá trình điều tra, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng đã thu được tại hiện trường; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi bị cáo đã thực hiện… nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 19 giờ ngày 31/8/2018, tại nhà nghỉ Phước Thi tại địa chỉ số 170/10 Lê Duẩn, phường Tân Thành, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Tuấn A có hành vi Tàng trữ 2,3879 gam ma tuý, loại: Methamphetamine để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện bắt quả tang. Nguyễn Tuấn A phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại theo điểm 0 khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a,…..;
……..;
o) Tái phạm nguy hiểm.
...”
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tuấn A là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về ma túy vì Methamphetamine là chất ma túy ở mục 20 thuộc danh mục I được ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ; theo đó, Nhà nước tuyệt đối cấm sử dụng chất này trong y học và đời sống xã hội bởi hệ lụy của ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe đồng thời cũng là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác.
Khi phạm tội, bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi, bị cáo biết và buộc phải biết việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào đều bị coi là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị pháp luật trừng trị bằng hình phạt; nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói nylon bên trong có chứa chất ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 2,3879 gam nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội mà trước đó bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội mới do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo điểm 0 khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội. Do đó cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội; đồng thời đủ sức răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội trong công cuộc phòng, chống ma túy.
[4]. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Do đó, cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối chiếu với quy định tại Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:
-Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.
-Đối với nguồn Methamphetamine bị cáo khai nhận mua của người nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch). Do chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã tách hành vi bán trái phép chất ma túy của người này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định là phù hợp.
-Cần tịch thu tiêu hủy đối với 2,3387 gam ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định và 01 ống tròn thủy tinh là tang vật của vụ án là phù hợp.
-Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng; số Imei: 358753055655023, kèm sim số 0945730916 là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án là phù hợp.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 21, Điều 22 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm 0 khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt: Nguyễn Tuấn A: 07(Bảy)năm 06(sáu) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/8/2018.
-Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy đối với 2,3387 gam ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định và 01 ống tròn thủy tinh là tang vật của vụ án.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn A 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng;số Imei: 358753055655023, kèm sim số 0945730916 là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án(Có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2018).
-Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 – TAND TC; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Tp. Buôn Ma Thuột; - Công an Tp. Buôn Ma Thuột; - Thi hành án phạt tù (để thi hành); - Chi cục THADS Tp. Buôn Ma Thuột; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo, các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Văn Vĩ |