vanban.org

Bản án 318/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 08/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tăng Văn B phạm “Tội vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt bị cáo Tăng Văn B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phƣờng T, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp bị cáo Tăng Văn B th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tăng Văn B bị xét xử về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tăng Văn B phạm “Tội vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 318/2017/HSST
Ngày 08 -12-2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quân Vƣơng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Từ Anh Tuấn

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thƣơng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chiến, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 282/2017/HSST ngày 28 tháng 9 năm 2017 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 336/2017/HSST-QĐ ngày 17 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Tăng Văn B, sinh năm 1985 tại tỉnh Nghệ An; thƣờng trú: Xóm X, TN, xã D, huyện C, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Tổ 39, khu phố C, phƣờng T, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Tăng Đình C, sinh năm 1946 và bà Ngô Thị Đ, sinh năm 1960; bị cáo có 01 em ruột sinh năm 1986; vợ tên Hồ Thị T, sinh năm 1990; có 01con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Hồng Mỹ X, sinh năm 1993 (đã chết).

Ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại: Ông Hồng Văn T, sinh năm 1972 và Nguyễn Hồng N, sinh năm 1970; địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Hồng Văn T, sinh năm 1972 và Nguyễn Hồng N, sinh năm 1970; địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.

2. Vũ Văn T, sinh năm 1986; thƣờng trú: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

3. Nguyễn Thành T, sinh năm 1967; thƣờng trú: Số X, đƣờng L, phƣờng Đ, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

4. Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1987; thƣờng trú: Số Y, khu phố M2, phƣờng D, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

5. Ông Vũ Hoàng H, sinh năm 1991; địa chỉ: Khu phố L, phƣờng T, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Nguyễn Vũ Hoài T, sinh năm 1991; thƣờng trú: Ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An; chỗ ở: Số X, khu phố L, phƣờng T, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Tăng Văn B là tài xế xe ô tô tải chở hàng, có giấy phép lái xe ô tô số 7900910xxxxx do Sở GTVT thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/10/2014. Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 28/4/2017, B điều khiển xe ô tô tải biển số 51C - 696.xx lƣu thông trên đƣờng ĐT743 hƣớng từ ngã ba Đông Tân thuộc phƣờng Dĩ An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng về hƣớng bến xe Tân Đông Hiệp thuộc phƣờng Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Khi đến đoạn đƣờng ĐT743 thuộc khu phố Chiêu Liêu, phƣờng Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, B điều khiển xe ô tô tải biển số 51C - 696.xx lấn phải vào làn đƣờng xe mô tô để tránh ô tô khác (chƣa rõ biển số) lƣu thông chiều ngƣợc lại. Lúc này, Hồng Mỹ X điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Vespa, màu đỏ biển số 61D1 - 439.xx đang lƣu thông song song cùng chiều bên phải xe ô tô tải, bị bất ngờ X thắng gấp, ngã xuống đƣờng bị hàng bánh sau bên phải xe ô tô tải biển số 51C - 696.xx do B điều khiển cán qua đầu dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả: Xuyên chết tại hiện trƣờng, 01 xe mô tô bị hƣ hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng vụ tai nạn giao thông:

Đoạn đƣờng xảy ra tai nạn là đƣờng thẳng, không giới hạn tầm nhìn của ngƣời điều khiển. Mặt đƣờng nơi xảy ra tai nạn đƣợc trải nhựa bằng phẳng, có vạch sơn đôi trắng liền ở giữa chia làm hai phần đƣờng xe chạy. Phần đƣờng bên phải theo hƣớng đi từ ngã ba Đông Tân về hƣớng bến xe Tân Đông Hiệp đƣợc chia làm hai làn đƣờng bằng vạch sơn trắng đứt quãng, làn đƣờng dành cho xe ô tô là 3,30 mét, làn đƣờng dành cho xe mô tô là 2 mét.

Xe ô tô tải biển số 51C - 696.xx sau tai nạn đầu xe hƣớng về bến xe Tân Đông Hiệp, đuôi xe hƣớng về ngã ba Đông Tân, trục 1 bánh trƣớc bên phải xe ô tô cách mép lề chuẩn là 1,50 mét, trục bốn bánh sau bên phải xe ô tô cách mép lề chuẩn là 1,30 mét, cách trục bánh trƣớc xe mô tô 61D1 - 439.xx là 6,70 mét. Xe ô tô tải 51C - 696.xx còn để lại vết thắng trên mặt đƣờng nhựa dài 3,30 mét. Đầu vết thắng cách mép lề chuẩn là 1,45 mét. Trục một bánh trƣớc bên trái cách trục đèn số 52 là 14,60 mét.

Xe mô tô biển số 61D1 - 439.xx sau tai nạn xe ngã về bên trái, đầu xe hƣớng vào lề phải, đuôi xe hƣớng về ngã ba Đông Tân. Trục bánh sau cách mép lề chuẩn là 0,5 mét, cách chân nạn nhân là 0,50 mét. Xe mô tô còn để lại vết thắng trên mặt đƣờng dài 6,20 mét và một vết cày đứt quãng trên mặt đƣờng dài 4,00 mét. Đầu vết thắng cách mép lề chuẩn là 0,60 mét, cuối vết thắng cách mép lề chuẩn là 0,20 mét, cách đầu vết cày xe mô tô là 0,70 mét. Đầu vết cày xe mô tô cách mép lề chuẩn là 0,30 mét, trục bánh xe mô tô cách mép lề chuẩn là 0,05 mét.

Nạn nhân nằm nghiêng, đầu nạn nhân hƣớng về lề trái, hai chân hơi co hƣớng vào mép lề phải, đầu nạn nhân cách mép lề chuẩn là 1,80 mét, chân nạn nhân cách mép lề chuẩn là 0,55 mét.

Kết quả khám nghiệm phƣơng tiện vụ tai nạn giao thông: Xe ô tô tải biển số 51C - 696.xx: Trên xe không để lại dấu vết; xe mô tô biển số 61D1 - 439.xx: Đầu tay cầm bên trái có vết trầy xƣớc. Đầu tay phanh bên trái có vết mài mòn kích thƣớc 0,7 x 0,7cm. Khoảng giữa rìa cách bửng bên trái có vết mài mòn dài 16cm, đầu dƣới vết mài mòn cách mặt đất 43cm, phần trên cách bửng bung khớp. Mủ dè trƣớc có vết trầy xƣớc kích thƣớc 12 x 8cm. Đầu gác chân sau bên trái có vết mài mòn kích thƣớc 5 x 3cm. Mặt ngoài ốp hông xe sau bên trái (dƣới yên) có vét trầy xƣớc 7 x 6cm, tâm cách mặt đất 53cm và cách đuôi xe 55cm. Mặt ngoài bên trái phía dƣới chân chống có vết mài mòn kích thƣớc 3 x 1,5cm.

Căn cứ bản kết luận giám định pháp y tử thi số 339/GĐPY ngày 01/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận:

Nguyên nhân chết của nạn nhân Hồng Mỹ X là do chấn thƣơng sọ não, vỡ xƣơng hộp sọ, dập não.

Cáo trạng số 271/QĐ– KSĐT ngày 27 tháng 9 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Tăng Văn B về “Tội vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” theo qui định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 202; Điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Tăng Văn B mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Vespa màu đỏ, biển số 61D1 - 439.xx là tài sản của Hồng Mỹ X, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại tài sản này cho đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại ông Hồng Văn T và bà Nguyễn Hồng N là cha mẹ X, sau khi nhận tài sản ngƣời đại diện không yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại khác.

Đối với 01 xe ô tô tải biển số 51C - 696.18 qua điều tra xác minh đây là tài sản của Vũ Văn T, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại xe cho anh T.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng chủ xe là Vũ Văn T và ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc bồi thƣờng tổng số tiền là 200.000.000 đồng, không có yêu cầu gì khác, nên trách nhiệm dân sự Viện kiểm sát không đặt ra.

Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 28/4/2017, Tăng Văn B điều khiển xe ô tô biển số 51C-696.xx lƣu thông trên đƣờng ĐT 743 thuộc khu phố Chiêu Liêu, phƣờng Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng do không quan sát bị cáo B chuyển làn đƣờng lấn phải vào phần đƣờng xe mô tô để tránh ô tô khác lƣu thông ngƣợc lại, do bị bất ngờ nên chị Hồng Mỹ X đang điều khiển mô tô nhãn hiệu Piaggio Vespa, màu đỏ biển số 61D1 - 439.xx đang lƣu thông song song cùng chiều bên phải xe ô tô tải do B điều khiển, chị X thắng gấp, ngã xuống đƣờng nên bị 02 hàng bánh sau bên phải xe ô tô tải biển số 51C - 696.xx do B điều khiển cán qua đầu dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả: chị X chết tại chỗ.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở xác định: Hành vi của bị cáo điều khiển xe ô tô chuyển làn đƣờng không quan sát làm bất ngờ cho ngƣời bị hại dẫn đến tai nạn là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 13 Luật giao thông đƣờng bộ. Cáo trạng số 271/QĐ– KSĐT ngày 27 tháng 9 năm 2017 và luận tội của kiểm sát viên truy tố bị cáo Tăng Văn B về “Tội vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là lỗi vô ý nhƣng nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đƣờng bộ, gây thiệt hại về tính mạng của ngƣời tham gia giao thông đang lƣu thông trên đƣờng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; có thái độ ăn năn hối cải; gia đình có công với cách mạng, ông Tăng Đình C là cha của bị cáo đƣợc tặng huy hiệu chiến sĩ Trƣờng Sơn; bị cáo cùng chủ xe đã bồi thƣờng cho gia đình ngƣời bị hại, gia đình ngƣời bị hại xin bãi nại cho bị cáo; tại phiên tòa, bị cáo cung cấp đơn xin miễn trách nhiệm hình sự của ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; là lao động chính trong gia đình, không có tiền án, tiền sự.

Đối với mức hình phạt nhƣ đại diện Viện kiểm sát đề nghị, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, nơi cƣ trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại chấp hành tốt chính sách Nhà nƣớc và pháp luật tại địa phƣơng; tại phiên tòa, bị cáo cung cấp đơn của đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xét thấy việc không cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian không làm ảnh hƣởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phƣơng nên quyết định áp dụng hình phạt là tù có điều kiện, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dƣới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú là đủ, xét tính chất mức độ của hành vi vi phạm của bị cáo thì mức hình phạt nhƣ đề nghị là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng chủ xe và ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại đã tự nguyện thỏa thuận về việc bồi thƣờng, không có yêu cầu gì khác. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Vespa màu đỏ, biển số 61D1 - 439.xx là tài sản của Hồng Mỹ X, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại tài sản cho đại diện hợp pháp ông Hồng Văn T và bà Nguyễn Hồng N là cha mẹ X. Ông T, bà N không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 xe ô tô tải biển số 51C - 696.xx qua điều tra xác minh đây là tài sản của Vũ Văn T, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại tài sản này cho anh T.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Tăng Văn B phạm “Tội vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 202; Điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Tăng Văn B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phƣờng T, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trƣờng hợp bị cáo Tăng Văn B thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

2. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14.

Bị cáo Tăng Văn B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngay nhận đƣợc bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ