vanban.org

Bản án 318/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 27/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M 21 tháng tù (hai mươi mốt tháng tù). Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 30-6-2017. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức M - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 318/2017/HSST
Ngày: 27-9-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vương Thị M Tân

2. Ông Nguyễn Đình Cải

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên

Hôm nay ngày 27 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 316/2017/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 316/2017/QĐXXHS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2017, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức M - sinh năm 1988

Nơi sinh: Tỉnh Nam Định.

Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp

Dân tộc: Kinh

Quốc tịch: Việt Nam.

Tôn giáo: Không

Văn hóa: 9/12.

Con ông: Nguyễn Đức V - sinh năm 1953.

Con bà: Đinh Thị B - sinh năm 1956.

Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư.

Vợ: Phạm Thị B - sinh năm 1988.

Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30-6-2017, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 06-7-2017 cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Nam Định.

( bị cáo Nguyễn Đức M có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 29-6-2017, tổ công tác Công an phường N, thành phố Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà số 1366 đường L, xã X, thành phố Nam Định phát hiện Nguyễn Đức M điều khiển xe máy BKS: 18T1-3992 có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra, tổ công tác đã thu giữ trong túi quần bên trái của M 05 gói nilon màu hồng trong là gói giấy bạc màu trắng chứa chất bột dạng cục màu trắng (M khai là gói Heroine). Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng và đưa M cùng người làm chứng về trụ sở công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của M 01 xe máy BKS: 18T1-3992.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Đi ̣nh đa trưng cẫ

̀u giám đi ̣nh vật chứ ng thu giữ. Ta ̣i bản kết luâ ̣n giám đi ̣nh số 575/GĐKTHS ngày 03-7-2017 của Phòng ky thuâ ̣̃

t hinh sự - Công an tỉnh Nam Đi ̣nh kết luâ ̣n: Mẫu

̀

chất bột dạng cục màu trắng thu giữ là chất ma túy, loại chất ma túy là Heroine, có trọng lượng 0,560 gam (Không phẩy năm sáu không gam).

Ta ̣i cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Đức M khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, đồng thời khai nhận nguồn gốc gói ma túy như sau: Khoảng 17 giờ ngày 29-6-2017 M đi xe máy BKS: 18T1-3992 từ nhà đến khu vực 3 tầng đường C, phường N, thành phố Nam Định, M gặp và mua của một nam thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) 05 gói Heroine với giá 500.000 đồng. M đi về tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực trước cửa nhà số 1366 đường L, xã X, thành phố Nam Định thì bị phát hiện bắt giữ.

Chiếc xe máy BKS: 18T1-3992 M khai là là tài sản của M mua bằng tiền M lao động.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho M, tài liệu Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên đã tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Bản cáo trạng số 329/QĐ-KSĐT ngày 12-9-2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Đức M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Nguyễn Đức M tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội khóa 14; khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999: xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù; Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Đức M nói lời sau cùng: Xin Hội đồng giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức M không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Đức M phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 29-6-2017, Nguyễn Đức M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,560 gam Heroine mục đich để sử du ̣ng thi bi ̣ bắt quả tang ta ̣i

́

̀ khu vực trước cửa số nhà 1366 đường L, xã X, thành phố Nam Định. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng Heroin bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,560 gam nên bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về các tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện tội phạm, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Đức M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngoài ra, căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội khóa 14 quy định áp dụng các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) theo hướng có lợi cho người phạm tội, Hội đồng xét xử sẽ vận dụng quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội lần đầu, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 nên Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để xử phạt bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Nguyễn Đức M tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe máy BKS: 18T1-3992 (đã cũ) xét thấy không liên quan đến vụ án nên sẽ trả lại cho bị cáo song tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1999 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội khóa 14.

- Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M 21 tháng tù (hai mươi mốt tháng tù). Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 30-6-2017.

2. Xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ số ma túy đã thu giữ.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức M 01 xe máy BKS: 18T1-3992 (đã cũ) song tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11-9-2017).

3. Án phí:

- Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

Bị cáo Nguyễn Đức M phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Đức M được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ