- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Hiếu N phạm tội “Đánh bạc” - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Hiếu N.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 317/2025/HS-PT Ngày 02 - 7 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành;
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Thế Phương;
Ông Nguyễn Đình Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 168/2025/TLPT-HS ngày 25 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Bùi Hiếu N; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2025/HS-ST ngày 25-02-2025 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2).
- Bị cáo có kháng cáo: Bùi Hiếu N (tên gọi khác: Bé), sinh năm 1977 tại Đồng Nai; Căn cước công dân số: 0750770182XX; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ G, Ấp A, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai (nay là xã P, tỉnh Đồng Nai); giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Bùi Văn X (đã chết) và bà Nguyễn Thị O (đã chết); có vợ tên Trương Ngọc X1 và có 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 09-8-2024, đến ngày 18-8-2024 (cấp sơ thẩm xác định ngày 17-8-2024 là không chính xác, bút lục số 44) được tại ngoại; hiện nay, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số: 137/2025/LCĐKNCT ngày 12-6-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; có mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra, vụ án còn có 03 bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính:
Nguyễn Thị P và Bùi Hiếu N nảy sinh ý định tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức “mua, bán số đề” dựa trên kết quả xổ số các đài M. P và N thỏa thuận P là người đứng ra nhận các con số đề của các con bạc và giao lại cho N, để được hưởng số tiền hoa hồng, với tỷ lệ 1.000.000 đồng tiền phơi đề P nhận sẽ được 50.000 đồng. P sử dụng 01 điện thoại di động OPPO A5S màu xanh, gắn sim số: 089951430X, đăng ký tài khoản Zalo tên “phuong” để nhắn tin qua ứng dụng Zalo và SMS với các con bạc để mua, bán số đề, cụ thể như sau:
1.1. Hành vi của Nguyễn Thị P đánh bạc với Bùi Hiếu N và Võ Thành L:
Ngày 09-8-2024, Võ Thành L, sử dụng tài khoản Zalo “Võ Khải” nhắn tin qua tài khoản Zalo của P tên “phuong” để mua số đề với nội dung:
- “VL 11 đầu 800 ngan”. Từ các con số trên có nghĩa là: Đánh đầu đài V con số 11, số tiền là 80.000 đồng, tính thành tiền là 800.000 đồng.
- “VL 11 đầu 100 ngan”. Từ các con số trên có nghĩa là: Đánh đầu đài V con số 11, số tiền 10.000 đồng, tính thành tiền là 100.000 đồng.
- “Da 11 64 2n 2d”. Từ các con số trên có nghĩa là: Đánh số đá 02 đài Vĩnh Long và Bình Dương con số 11 và 64, số tiền là 2.000 đồng, thành tiền là 144.000 đồng.
- “Dau VL 11 100n”. Từ các con số trên có nghĩa là: Đánh số đầu đài Vĩnh Long con số 11, với số tiền là 10.000 đồng, tính thành tiền là 100.000 đồng.
- “Dau dui 39 10 20n BV T1”. Từ các con số trên có nghĩa là: Đánh số đầu đuôi đài Bình Dương và Trà Vinh con số 39 và 10, với số tiền mỗi số là 20.000 đồng, thành tiền là 160.000 đồng.
- “Dau VL 11 300n”. Từ các con số trên có nghĩa là: Đánh số đầu đài Vĩnh Long con số 11, với số tiền là 30.000 đồng, thành tiền 300.000 đồng.
- “Dau dui 10 30 25n 2d”. Đánh số đầu đuôi đài Bình Dương và Vĩnh Long con số 10 và 30, với số tiền 25.000 đồng, thành tiền 200.000 đồng.
- “Dau dui 54 50n lo 10n 2d”. Từ các con số trên có nghĩa là: Đánh đầu đuôi đài Bình Dương và đài V con số 54 với số tiền 50.000 đồng, bao lô con số 54 đài Bình Dương và đài V với số tiền 10.000 đồng, thành tiền 560.000 đồng.
- “Dau 28 68 50n dui 20n 2d Dau 44 50n 2d”. Từ các con số trên có nghĩa là: Đánh đầu đài Bình Dương và đài Vĩnh Long con số V, con số 68 với số tiền 50.000 đồng, đuôi 20.000 đồng, đánh đầu đài Bình Dương và đài V con số 44 với số tiền 50.000 đồng, thành tiền 380.000 đồng.
- “Da 41 23 21 1n 2d”. Từ các con số trên có nghĩa là: Đánh số đá con số 41, số B, và số 21 đài Vĩnh Long và Bình Dương với số tiền mỗi số là 1.000 đồng, thành tiền 216.000 đồng.
- “Da 29 10 19 2n 2d”. Từ các con số trên có nghĩa là: Đánh số đá con số 29, số A, và số 19 đài Vĩnh Long và Bình Dương với số tiền 2.000 đồng, thành tiền 432.000 đồng.
- “Dau 18 28 80n dui 20n 30 40n dui 10n 71 70n dui 30n 2d”. Từ các con số trên có nghĩa là: Đánh số đầu đài Vĩnh Long và Bình Dương con số 18, con số 28 với số tiền 80.000 đồng, đuôi 20.000 đồng, con số 30 đầu với số tiền 40.000 đồng, đuôi với số tiền 10.000 đồng, con số 71 đầu với số tiền 70.000 đồng, đuôi với số tiền 30.000 đồng, thành tiền 700.000 đồng.
- “Dau 01 20n dui 10n da 01 41 81 1n 2d”. Từ các con số trên có nghĩa là: Đánh số đầu đài Vĩnh Long và Bình D con số 01 với số tiền 20.000 đồng, đuôi 10.000 đồng, đánh số đá Vĩnh Long và B con số 01, con số 41, con số 81 với số tiền 1.000 đồng thành tiền 276.000 đồng.
- “Khung Lo 70 10n 2d”. Từ các con số trên có nghĩa là: Bao lô 02 đài Bình Dương, đài V con số 70 với số tiền 10.000 đồng tính thành tiền 360.000 đồng.
- “Lô 88 3đai 5k lô 3 đài 888 5k đầu 52 2 đai 20k”. Từ các con số trên có nghĩa là: Bao lô 03 đài Bình Dương, đài V và đài T2 con số 88, với số tiền 5.000 đồng, bao lô 03 đài B, đài Vĩnh Long và đài T2 con số 888, với số tiền 5.000 đồng, đánh số đầu 02 đài Vĩnh Long và Bình Dương con số 52, với số tiền 20.000 đồng, thành tiền 40.000 đồng thành tiền 565.000 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Thị P tham gia đánh bạc với Võ Thành L vào ngày 09-8-2024: 5.293.000 đồng.
Sau khi bán số đề cho Võ Thành L, P sử dụng điện thoại số thuê bao 0899514302 nhắn tin SMS đến số thuê bao 0906235211 của Bùi Hiếu N chuyển một phần phơi đề của L qua cho N để được hưởng hoa hồng theo tỷ lệ 1.000.000 đồng tiền phơi P được hưởng 50.000 đồng, cụ thể:
- “Đầu.vl.11.600n”. Từ các con số trên có nghĩa là: Đánh đầu đài Vĩnh Long con số 11 với số tiền là 600.000 đồng.
- “Vl.đau.11.120n”. Từ các con số trên có nghĩa là: Đánh đầu đài Vĩnh Long con số 11 với số tiền là 120.000 đồng.
Tổng số tiền P tham gia đánh bạc với N vào ngày 09-8-2024: 720.000 đồng. Những phơi đề còn lại của L, P ôm giữ lại để thắng thua trực tiếp với L.
Như vậy, ngày 09-8-2024, P tham gia đánh bạc cùng với L và N tổng số tiền: 6.013.000đ đồng.
Đến lúc 16 giờ ngày 09-8-2024, Công an thị trấn H phối hợp với Đội CSHS-KTMT Công an huyện N bắt quả tang Nguyễn Thị P.
Đến 19 giờ cùng ngày, Võ Thành L đến Công an thị trấn H đầu thú, khai nhận hành vi đánh bạc với P và giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A50, màu tím gắn sim số 0899730245 sử dụng vào mục đích đánh bạc.
1.2. Đối với hành vi của Bùi Hiếu N:
Ngoài tham gia đánh bạc với Nguyễn Thị P số tiền: 720.000 đồng, cùng ngày N còn nhắn tin SMS đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức “bán số đề” các đài xổ số Miền Nam với Đỗ Ngọc T và Nguyễn Văn L1, sinh năm 1990, Căn cước công dân số: 087090006913, địa chỉ: B ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp như sau:
1/ Đánh bạc với Nguyễn Văn L1:
Ngày 09-8-2024, L1 sử dụng 01 điện thoại Nokia loại trắng đen gắn sim số thuê bao “0383974107” nhắn tin SMS vào số thuê bao “0906235211” của N để mua các số đề đài miền N nội dung:
- “da 37 79 33 1k hd”, nghĩa là: Số đá hai đài miền N (Bình Dương, Vĩnh Long) các số: 37, 79, 33, số tiền: 1.000 đồng; tiền cược các con số trên: 216.000 đồng;
- “52 da 72 1khd”, nghĩa là: Số đá hai đài miền N (Bình Dương, Vĩnh Long) các số: 52, 72, số tiền: 1.000 đồng; tiền cược các con số trên: 72.000 đồng;
- “Lo 337 1khd 37 da 01 1k hd”, nghĩa là: Bao lô hai đài miền N (Bình Dương, Vĩnh Long) số 337, số tiền: 1.000 đồng; tiền cược các con số trên: 34.000 đồng; số đá hai đài miền N (Bình Dương - Vĩnh Long) các số: 37, 01, số tiền: 1.000 đồng; tiền cược các con số trên: 72.000 đồng;
- “79 64 46 97 đá 1n”, nghĩa là: Số đá đài miền N (Bình Dương) các số: 79, 64, 46, 97, số tiền: 1.000 đồng; tiền cược các con số trên: 216.000 đồng;
- “18 đá 07 5n dai đài”, nghĩa là: Số đá hai đài miền N (Bình Dương - Vĩnh Long) các số: 18, 07, số tiền: 5.000 đồng; tiền cược các con số trên: 360.000 đồng;
- “68da38 2khđ”, nghĩa là: Số đá hai đài miền N (Bình Dương, Vĩnh Long) các số: 68, 38, số tiền: 2.000 đồng; tiền cược các con số trên: 144.000 đồng;
- “23da32 1khd”, nghĩa là: Số đá hai đài miền N (Bình Dương, Vĩnh Long) các số: 23, 32, số tiền: 1.000 đồng. số tiền cược các con số trên: 72.000 đồng;
- “20 da99.hd2k .98 da68.hd.3k”, nghĩa là: Số đá hai đài miền N (Bình Dương, Vĩnh Long) các số: 20, 99, số tiền: 2.000 đồng; tiền cược các con số trên: 144.000 đồng; số đá hai đài miền N (Bình Dương, Vĩnh Long) các số: 98, 68, số tiền: 3.000 đồng; tiền cược các con số trên: 216.000 đồng;
- “94 da 68 1khd”, nghĩa là: Số đá hai đài miền N (Bình Dương, Vĩnh Long) các số: 94, 68, số tiền: 1.000 đồng; tiền cược các con số trên: 72.000 đồng;
- “2d da 38 83 35 2n 58 68 89 2n.xv”, nghĩa là: Số đá hai đài miền N (Bình Dương, Vĩnh Long) các số: 38, 83, 35, số tiền: 2.000 đồng; tiền cược các con số trên: 432.000 đồng; số đá hai đài miền N (Bình Dương, Vĩnh Long) các số: 58, 68, 89, số tiền: 2.000 đồng; tiền cược các con số trên: 432.000 đồng;
- “Xc 868 183 10n”, nghĩa là: Xỉu chủ số 868, 183, số tiền: 10.000 đồng; tiền cược các con số trên: 40.000 đồng.
Tổng số tiền L1 tham gia đánh bạc với N vào ngày 09-8-2024 là: 2.522.000 đồng.
Do số tiền đánh bạc của L1 chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện N đã ra quyết định xử phạt hành chính là phù hợp.
2/ Đánh bạc với Đỗ Ngọc T sử dụng 01 điện thoại hiệu Oppo A15, màu trắng gắn số thuê bao 0966270130 nhắn tin SMS qua số thuê bao 0906235211 của N để mua số đề nội dung:
- Bao lô hai đài miền N (Bình Dương, Vĩnh Long) các số: 35, 53, số tiền: 10.000 đồng; số tiền cược các con số trên: 720.000 đồng;
- Số đá hai đài miền N (Bình Dương, Vĩnh Long) các số: 38, 68, 88, 89, số tiền: 2.000 đồng; số tiền cược các con số trên: 860.000 đồng;
- Bao lô ba đài miền N (Bình Dương, Vĩnh Long, Trà Vinh) số: 88, số tiền: 10.000 đồng; số tiền cược các con số trên: 540.000 đồng;
- Số đá hai đài miền N (Bình Dương, Vĩnh Long) các số: 35, 53, số tiền: 5.000 đồng; số tiền cược các con số trên: 360.000 đồng;
- Bao lô hai đài miền N (Bình Dương, Vĩnh Long) số: 47, số tiền: 20.000 đông; số tiền cược các con số trên: 720.000 đồng;
- Số đá hai đài miền N (Bình Dương, Vĩnh Long) các số: 53, 35, 32, số tiền: 3.000 đồng; số tiền cược các con số trên: 648.000 đồng;
Sau khi có kết quả sổ xố đài miền N, T đã dò kết quả T trúng con số bao lô cặp số “47” đài Bình Dương với số tiền 20.000 đồng T thắng số tiền 1.400.000 đồng (tỉ lệ 1/70 với 1.000 đồng thắng 70.000 đồng).
Tổng số tiền N tham gia đánh bạc với T vào ngày 09-8-2024 là 5.252.000 đồng (gồm 3.852.000 đồng tiền phơi đề và 1.400.000 đồng T thắng).
Như vậy, Bùi Hiếu N tham gia đánh bạc với Nguyễn Thị P, Đỗ Ngọc T và Nguyễn Văn L1 vào ngày 09-8-2024 với tổng số tiền: 8.494.000 đồng.
Đến 20 giờ 05 phút cùng ngày, Bùi Hiếu N đến Công an thị trấn H đầu thú, khai nhận hành vi đánh bạc với P, T và L1.
3. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2025/HS-ST ngày 25-02-2025 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2), đã quyết định:
- Tuyên bố các bị cáo Bùi Hiếu N, Nguyễn Thị P, Võ Thành L và Đỗ Ngọc T phạm tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo N 10 tháng tù. Xử phạt tiền các bị cáo P, L và T, mỗi bị cáo 25.000.000 đồng.
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.
4. Kháng cáo:
Bị cáo Bùi Hiếu N kháng cáo giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
5. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án; xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Hiếu N theo tội danh và điều luật bản án sơ thẩm đã nêu là có căn cứ, đúng người và đúng tội. Bị cáo kháng cáo cung cấp được tình tiết mới, đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hình phạt của cấp sơ thẩm đối với bị cáo là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Hiếu N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu; cùng với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Hiếu N phạm tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về kháng cáo:
2.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
2.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tại cấp sơ thẩm: Bị cáo đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Áp dụng quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo cung cấp đơn được chính quyền địa phương xác nhận, kèm theo tài liệu, thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nhiều người thân phụ thuộc; trong đó, có vợ bị “dập não trái”, tinh thần không bình thường.
2.3. Về hình phạt:
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện vụ án, quyết định hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Bùi Hiếu N là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp được tình tiết mới nêu trên; xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, học vấn thấp, hành vi bộc phát nhất thời và số tiền đánh bạc không lớn (8.494.000 đồng); do đó, chấp nhận kháng cáo, xử phạt tiền cũng đủ răn đe giáo dục và thu ngân sách Nhà nước.
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Bùi Hiếu N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Không chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, 2 Điều 355 và điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Hiếu N.
Sửa một phần về hình phạt do khách quan, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2025/HS-ST ngày 25-02-2025 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2).
1. Tội danh và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Bùi Hiếu N phải nộp 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”, sung vào công quỹ Nhà nước.
2. Về án phí: Bị cáo Bùi Hiếu N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Tòa án nhân dân khu vực 2; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2; - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai (PC02); - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đồng Nai; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Đồng Nai; - Công an xã Phước An; - Lưu: Hồ sơ vụ án và VP (15). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký và đóng dấu Nguyễn Văn Thành |