vanban.org

Bản án 317/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 21/11/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự và nhận định; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 317/2022/HS-PT
Ngày: 21- 11- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các Thẩm phán:

Ông Lê Khắc Thịnh.

Ông Nguyễn Chí Dững.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phan Thị Kim Loan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Bà Lưu Thúy Ái- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 266/2022/TLPT-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2022/HS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hồng N, tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1974 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; nơi cư trú: Ấp Long H, xã Long Khánh X, huyện Hồng N, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1946 (chết) và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1948 (chết); vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: 01 lần (Ngày 17/7/2022, Nguyễn Văn T bị Trưởng Công an xã Long Khánh X, huyện Hồng N1, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định số 33/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép bằng hình thức bài sập xám (13 lá) mà được thua bằng tiền”. Nguyễn Văn T đã nộp phạt xong vào ngày 02/9/2021). Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T:

Luật sư Nguyễn Quốc Khả- Công ty Luật TNHH MTV Lâm Thanh thuộc Đoàn Luật sư tỉnh An Giang.

Địa chỉ: Ấp An Thịnh, thị trấn An Phú, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/7/2021, tại ấp Long H, xã Long Khánh X, huyện Hồng N, tỉnh Đồng Tháp, Nguyễn Văn T có hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền bị Công an xã Long Khánh X bắt quả tang và lập biên bản vi phạm. Ngày 15/7/2021, Trưởng Công an xã Long Khánh X, huyện Hồng N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 33/QĐ-XPHC phạt Nguyễn Văn T số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc nêu trên. Đến ngày 02/9/2021 thì Nguyễn Văn T nộp phạt xong.

Vào khoảng 22 giờ 50 phút, ngày 10/02/2022, Nguyễn Văn T cùng với Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị Thu Y và một số đối tượng khác không biết họ tên, năm sinh, địa chỉ cư trú đến tại phần đất trống của ông Nguyễn Văn N2 thuộc ấp Long P, xã Long Khánh X, huyện Hồng N, tỉnh Đồng Tháp tham gia đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi bài 03 lá được thua bằng tiền. Bị cáo Nguyễn Văn T ké tụ bài của người phụ nữ mà bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, bị cáo tham gia 01 ván, đặt cược 20.000 đồng, kết quả thua. Nguyễn Thị G tham gia 03 ván (02 ván thắng, ván thứ ba chưa phân thắng thua), đặt cược mỗi ván 100.000 đồng. Nguyễn Thị L tham gia 03 ván, ké vào tụ bài của chị Y, đặt cược 10.000 đồng (thắng được 10.000 đồng). Nguyễn Thị Thu Y tham gia 01 ván, đặt cược 10.000 đồng thì bị lực lượng Công an xã Long Khánh X, huyện Hồng N phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

- 52 (năm mươi hai) lá bài tây (đã qua sử dụng).

- 01 (một) tấm bao (đã qua sử dụng).

- 01 (một) bóng đèn (đã qua sử dụng).

- Tiền Việt Nam 80.000 đồng.

Tất cả vật chứng không xác định được chủ sở hữu.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Đối với Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Thu Y là người tham gia đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, nhưng số tiền dùng vào việc đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, các đối tượng này cũng chưa có tiền án, tiền sự, vì vậy chưa đủ cơ sở cấu thành tội phạm “Đánh bạc”. Ngày 16/02/2022, Công an xã Long Khánh X ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2022/HS-ST ngày 21/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hồng N, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và nêu quyền kháng cáo theo luật định.

Đến ngày 28 tháng 7 năm 2022, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin Hội đồng xét xử phúc thẩm chuyển sang xử phạt bị cáo bằng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận: Vào khoảng 22 giờ 50 phút ngày 10/02/2022 bị cáo cùng với Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị Thu Y và một số đối tượng khác không biết họ tên, năm sinh, địa chỉ cư trú đến tại phần đất trống của ông Nguyễn Văn N2 thuộc ấp Long P, xã Long Khánh X, huyện Hồng N, tỉnh Đồng Tháp tham gia đánh bài 03 lá được thua bằng tiền, bị cáo ké tụ bài của người phụ nữ không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, bị cáo tham gia 01 ván, đặt cược 20.000 đồng nhưng bị thua, đúng lúc này thì bị lực lượng Công an xã Long Khánh X, huyện Hồng N đến bắt quả tang. Bị cáo thừa nhận Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2022/HS-ST ngày 21/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hồng N, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Bị cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 04 tháng tù là nặng nên bị cáo kháng cáo xin Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chuyển hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền cho bị cáo để bị cáo có điều kiện tại ngoại chăm lo cho gia đình. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình các tài liệu chứng minh bị cáo đang bị bệnh đáo tháo đường không phụ thuộc insuline và tim bị rối loạn chức năng tâm trương thất. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem các tài liệu này là chứng cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm nhận định: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Ngày 15/7/2021, bị cáo đã bị Trưởng Công an xã Long Khánh X, huyện Hồng N, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính thì đến ngày 10/02/2022 bị cáo lại tiếp tục đánh bạc. Mặc dù số tiền mà bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc lần này là không lớn, nhưng hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Khi xét xử sơ thẩm, Tòa án đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án 04 tháng tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo đã phạm. Nay bị cáo kháng cáo và có cung cấp các tình tiết giảm nhẹ mới là bị cáo bị bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insuline, tim bị rối loạn chức năng tâm trương thất, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận đây là các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, các bệnh này của bị cáo không phải là bệnh hiểm nghèo, bị cáo cũng khai nhận là bản thân đi nuôi ao cá thuê cho người khác, kinh tế khó khăn, bên cạnh đó Kiểm sát viên nhận thấy rằng trước đây đã xử phạt hành chính đối với bị cáo nhưng bị cáo vẫn đánh bạc, do đó việc cho bị cáo được phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ là không hợp lý và hiệu quả giáo dục bị cáo là không có. Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

Luật sư Nguyễn Quốc Khả bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T phát biểu cho rằng: Bị cáo T có học vấn không cao nên nhận thức pháp luật hạn chế, đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, do không hiểu biết nên đánh bạc tiếp và vi phạm pháp luật hình sự. Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính, tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo T có xuất trình được các tình tiết giảm nhẹ mới là bị cáo bị bệnh tim rối loạn chức năng tâm trương thất, bị cáo đang bị bệnh đáo tháo đường không phụ thuộc insuline, Luật sư đề nghị xem đây là các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Luật sư còn nhận định số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc rất nhỏ, hành vi mới khởi phát thì đã bị ngăn chặn, hành vi của bị cáo không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần thiết phải giam giữ bị cáo. Từ những phân tích trên, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo bằng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền.

Tại phần tranh luận, bị cáo Nguyễn Văn T không tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được được cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền để bị cáo được tại ngoại, chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Bị cáo Nguyễn Văn T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt nhưng vẫn chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính (chưa hết tiền sự), sau đó bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, mặc dù số tiền bị cáo dùng để đánh bạc lần này chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng vì bị cáo vẫn còn tiền sự nên hành vi của bị cáo đủ cơ sở cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2022/HS-ST ngày 21/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hồng N, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T xin được cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo do bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo theo các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và nhận định bị cáo có trình độ học vấn thấp nên khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế để coi đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo mức án 04 tháng tù là mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố, xét xử. Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ của Tòa án cấp sơ thẩm là đúng pháp luật và có xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T xuất trình các tài liệu chứng minh bị cáo bị bệnh tim rối loạn chức năng tâm trương thất, bị cáo đang điều trị bệnh đáo tháo đường không phụ thuộc insuline. Hội đồng xét xử phúc thẩm ghi nhận đây là các tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại Tòa án cấp phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy rằng bị cáo bị bệnh tim rối loạn chức năng tâm trương thất, đái tháo đường không phụ thuộc insuline chưa phải là các bệnh hiểm nghèo, bị cáo thuộc thành phần lao động làm thuê có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, khó có khả năng thi hành hình phạt tiền và mức hình phạt 04 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo không chỉ phù hợp với quy định của Bộ luật hình sự, phù hợp với các tình tiết giảm nhẹ, mà còn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Do đó không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin được phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 41/2022/HS-ST ngày 21/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hồng N, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

[3] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận, nhưng không có cơ sở để chấp nhận phát biểu của Luật sư bào chữa cho bị cáo, lý do đã được phân tích ở trên.

[4] Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T.

Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2022/HS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hồng N, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

4. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

Cỡ chữ