- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "CÔNG TY T1 - CAO TRUNG B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty T: Buộc ông Cao Trung B phải trả ngay cho Công ty T tổng số tiền tính đến ngày 25/8/2025 là 134.
- Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 316/2025/DS-ST Ngày: 25 – 8 – 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đinh Thị Tuyết Mai
2. Ông Phạm Thế Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mến – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 698/2025/TLST-DS ngày 24/3/2025, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 317/2025/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1083/2025/QĐST – DS ngày 04 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T
Địa chỉ trụ sở: Tầng A, Tháp B, Khu thương mại dịch vụ kết hợp nhà ở cao tầng tại lô đất 1-13 thuộc Khu C - Số A, đường T, phường T, thành phố T (nay là phường A), Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trịnh Đức P, sinh năm: 1974; Địa chỉ: 1 Chung cư A, phường A, thành phố T (nay là phường B) Thành phố Hồ Chí Minh làm người đại diện ủy quyền theo Giấy ủy quyền ngày 06/12/2024 (có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Cao Trung B, sinh năm: 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số B Hồ V, khu phố A, phường T, thành phố T (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn Công ty T có ông Trịnh Đức P là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng tại đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2024, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được có lời trình bày như sau:
Ngày 30/12/2019, ông Cao Trung B và Công ty T (gọi tắt là Công ty T) ký hợp đồng tín dụng số 100220668 vay theo hình thức trả góp hàng tháng, số tiền vay: 79.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi chín triệu đồng), lãi suất: 34 %/năm, thời hạn vay: 48 tháng.
Theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng thì ông Cao Trung B có trách nhiệm thanh toán bao gồm gốc và lãi trong vòng 48 tháng, mỗi tháng ông Cao Trung B phải thanh toán cho Công ty T số tiền là 3.048.029 đồng vào trước hoặc đúng ngày 05 hàng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng. Ngày thanh toán đầu tiên bắt đầu từ 05/02/2020.
Từ ngày 04/02/2020 đến ngày 10/05/2020 ông Cao Trung B thanh toán cho Công ty T được số tiền là 12.232.597 đồng, (trong đó, nợ gốc: 2.948.422 đồng; Lãi: 9.284.175 đồng).
Tuy nhiên, từ sau ngày 10/05/2020 đến nay, ông Cao Trung B không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho cho Công ty T và cố tình trốn tránh.
Công ty T yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với ông Cao Trung B:
Buộc ông Cao Trung B phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ cho Công ty T tổng số tiền tính đến hết ngày 25/8/2025 là 134.113.269 đồng, (trong đó, nợ gốc: 76.051.578 đồng; Lãi trong hạn: 58.061.691 đồng). Không yêu cầu tính tiền lãi quá hạn, lãi phát sinh, các loại phí sau ngày xét xử sơ thẩm.
Đối với yêu cầu lãi phát sinh, lãi quá hạn, các loại phí: Ngày 24/8/2025, nguyên đơn có đơn yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu buộc ông Cao Trung B phải trả cho Công ty T tiền lãi phát sinh, lãi quá hạn, các loại phí theo hợp đồng tín dụng số 100220668 ngày 30/12/2019.
Bị đơn ông Cao Trung B vắng mặt nên không có lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Theo những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy Công ty T yêu cầu ông Cao Trung B phải trả ngay cho Công ty T tổng số tiền tính đến ngày 25/8/2025 là 134.113.269 đồng, (trong đó, nợ gốc: 76.051.578 đồng; Lãi: 58.061.691 đồng) là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với yêu cầu lãi phát sinh, lãi quá hạn, các loại phí: Ngày 24/8/2025, nguyên đơn có đơn yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu buộc ông Cao Trung B phải trả cho Công ty T tiền lãi phát sinh, lãi quá hạn, các loại phí theo hợp đồng tín dụng số 100220668 ngày 30/12/2019. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu tính tiền lãi quá hạn, lãi phát sinh, các loại phí sau ngày xét xử sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Công ty T khởi kiện vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với ông Cao Trung B, sinh năm: 1990, địa chỉ: Số B Hồ V, khu phố A, phường T, thành phố T (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp hợp đồng về dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì bị đơn ông Cao Trung B có địa chỉ tại phường T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2- Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào kết quả xác minh tại Công an phường T, thành phố T cho biết công dân Cao Trung B, sinh năm 1990 có hộ khẩu thường trú tại: Số B Hồ V, khu phố A, phường T, thành phố T (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh, hiện công dân đang cư ngụ tại địa phương. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai văn bản tố tụng tại địa chỉ số B Hồ V, khu phố A, phường T, thành phố T (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh, Trụ sở Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường T) và tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh) nhưng ông B vẫn vắng mặt không có lý do, cụ thể:
- Lần 1: Vào ngày 12/4/2025, niêm yết Thông báo thụ lý vụ án số 698/2025/TB-TLVA ngày 24/3/2025 và giấy triệu tập đương sự ngày 08/4/2025, triệu tập ông Cao Trung B đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 29/4/2025 để trình bày lời khai giải quyết vụ án;
- Lần 2: Vào ngày 01/6/2025, niêm yết Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 4789/TB-TA ngày 26/5/2025 và giấy triệu tập đương sự ngày 26/5/2025, triệu tập ông Cao Trung B đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 17/6/2025 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải;
- Lần 3: Vào ngày 14/7/2025, niêm yết thông báo về kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 17/6/2025, giấy triệu tập xét xử ngày 11/7/2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 317/2025/QĐXXST – DS ngày 11/7/2025, yêu cầu ông Cao Trung B có mặt tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh, số A, Đ, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 04/8/2025 để tham gia phiên tòa.
- Lần 4: Vào ngày 08/8/2025, tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa số 1083/2025/QĐST-DS ngày 04/8/2025, giấy triệu tập xét xử ngày 04/8/2025 yêu cầu ông Cao Trung B có mặt tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh, số A, Đ, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 25/8/2025 để tham gia phiên tòa.
Trong quá trình tiến hành tố tụng, ông Cao Trung B vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn Công ty T ủy quyền ông Trịnh Đức P làm người đại diện có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Trịnh Đức P là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty T và bị đơn ông Cao Trung B.
Về nội dung vụ án:
Đối với yêu cầu: Buộc ông Cao Trung B phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ cho Công ty T tổng số tiền tính đến hết ngày 25/8/2025 là 134.113.269 đồng, (trong đó, nợ gốc: 76.051.578 đồng; Lãi trong hạn: 58.061.691 đồng).
Tại hợp đồng cho vay ngày 30/12/2019, cam kết nhận nợ và yêu cầu giải ngân, lịch trả nợ, phiếu đề nghị cấp khoản vay, bản Điều khoản cơ bản của Hợp đồng cho vay của Công ty T, Hội đồng xét xử có căn cứ để xác định: Công ty T có giải ngân cho ông Cao Trung B số tiền 79.000.000 đồng (Bảy mươi chín triệu đồng).
Tại bản chi tiết các giao dịch thể hiện: Tính đến ngày 10/5/2020, ông Cao Trung B đã thanh toán tổng cộng số tiền là 12.232.597 đồng (Mười hai triệu hai trăm ba mươi hai nghìn năm trăm chin mươi bảy đồng). Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Công ty T buộc ông Cao Trung B trả số tiền nợ gốc nợ gốc: 76.051.578 đồng (Bảy mươi sáu triệu, không trăm năm mươi mốt nghìn, năm trăm bảy mươi tám đồng).
Đối với yêu cầu tiền lãi: Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do đó, Công ty T yêu cầu ông Cao Trung B trả số tiền lãi trong hạn tính đến hết ngày 25/8/2025 với số tiền là 58.061.691 đồng là có cơ sở.
Đối với yêu cầu lãi phát sinh, lãi quá hạn, các loại phí: Ngày 24/8/2025, nguyên đơn có đơn yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu buộc ông Cao Trung B phải trả cho Công ty T tiền lãi phát sinh, lãi quá hạn, các loại phí theo hợp đồng tín dụng số 100220668 ngày 30/12/2019. Xét đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.
Đối với việc nguyên đơn không yêu cầu tính tiền lãi quá hạn, lãi phát sinh, các loại phí sau ngày xét xử sơ thẩm. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không tính tiền lãi quá hạn, lãi phát sinh, các loại phí sau ngày xét xử sơ thẩm.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Công ty T được chấp nhận nên ông Cao Trung B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016.
Vi các le trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 238; Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 116; Điều 117; Điều 357; Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty T: Buộc ông Cao Trung B phải trả ngay cho Công ty T tổng số tiền tính đến ngày 25/8/2025 là 134.113.269 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu, một trăm mười ba nghìn, hai trăm sáu mươi chín đồng), (trong đó, nợ gốc: 76.051.578 đồng; Lãi trong hạn: 58.061.691 đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn Công ty T không yêu cầu tính tiền lãi quá hạn, lãi phát sinh, các loại phí sau ngày xét xử sơ thẩm.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu buộc ông Cao Trung B phải trả cho Công ty T tiền lãi phát sinh, lãi quá hạn, các loại phí theo hợp đồng tín dụng số 100220668 ngày 30/12/2019.
Các bên thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Cao Trung B phải chịu án phí sơ thẩm là 6.705.663 đồng (Sáu triệu, bảy trăm lẻ năm nghìn, sáu trăm sáu mươi ba đồng).
H lại cho Công ty T số tiền tạm ứng án phí là 5.942.273 đồng (Năm triệu, chín trăm bốn mươi hai nghìn, hai trăm bảy mươi ba đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0073702 ngày 20/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phòng Thi hành án Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Công ty T, ông Cao Trung B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân TP. Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2; - Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu VT, hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Hoài |