vanban.org

Bản án 316/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 26/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo 01(một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02(hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 26/12/2024). Giao bị cáo Mai Văn T cho Ủy ban nhân dân phường Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo dõi, giáo dục trong thời gian thử thách. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn Luân " Vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 316/2024/HS-ST
Ngày : 26/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Ông Nguyễn Triều Châu.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Tuất và ông Doãn Đức Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện VKSND huyện Trảng Bom - tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 328/2024/ TLST-HS ngày 27/11/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 316/2024/QĐXX-HS ngày 08/12/2024 đối với bị cáo:

-Mai Văn T, sinh năm 1989 tại Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Khu phố Long Đức 1, phường Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn T(đã chết) và bà Trịnh Thị S (Còn sống); Có vợ: Nguyễn Thị Hoài P, có 03 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Lâm S (đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Lâm Thal, bà Thạch Thị Hường, ông Lâm Quang và bà Lâm Thị Ngọc Bích. Cùng trú tại: ấp Nam Chánh, xã Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Trần Thuận. Trú tại: ấp Nam Chánh, xã Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Văn Dương. Trú tại: Khu phố Long Đức 1, phường Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, có mặt.

+ Chị Nguyễn Thị Bé Quyên. Trú tại: Tổ 9, ấp Khánh Mỹ, xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Mai Văn T là người có giấy phép lái xe hạng C số 750214014365 do Sở giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 31/12/2021, có giá trị đến ngày 31/12/2026.

Vào tối ngày 20/7/2024 Mai Văn T điều khiển xe ôtô tải biển số 60C-119.48 đi từ khu phố Long Đức 1, phường Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đến chợ đầu mối phường Tân Biên, thành phố Biên Hòa để lấy hàng. Đi cùng trên xe với T còn có anh Nguyễn Văn Dương (là chủ xe ô tô 60C-119.48) và anh Nguyễn Quang Hùng cùng làm nghề buôn bán rau, củ, quả với T. Đến khoảng 00 giờ 20 phút ngày 21/7/2024 khi T điều khiển xe đi đến km 02+300 đường Bắc Sơn – Long Thành, theo hướng Biên Hòa đi Quốc lộ 1, thuộc ấp Phú Sơn, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thì T phát hiện phía trước cách khoảng 50 mét xe mô tô biển số 67D1-267.96 do anh Lâm S điều khiển (anh S không có giấy phép lái xe theo quy định) chở anh Trần Thuận ngồi sau đang lưu thông hướng ngược lại đi ở gần giữa tim đường, khi còn cách xe của anh S khoảng 10 mét T điều khiển xe ô tô lưu thông S phần đường bên trái để tránh xe mô tô biển số 67D1-267.96 do anh S điều khiển nhưng do khoảng cách gần nên đầu xe ô tô tải biển số 60C-119.48 do T điều khiển va chạm vào đầu xe mô tô biển số 67D1-267.96 do anh S điều khiển đang lưu thông đúng phần đường bên phải theo hướng Quốc lộ 1 đi Biên Hòa. Hậu quả của vụ tai nạn làm cho anh S tử vong tại chỗ còn anh Thuận bị thương được người dân đưa đến Bệnh viện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai.

Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom đã tiến khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện:

“Tình trạng hiện trường khi khám nghiệm: còn nguyên vẹn.

Hiện trường và quá trình khám nghiệm: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường ướt, rải nhựa bằng phẳng; đoạn đường có vạch sơn đứt quãng màu vàng chia thành 2 chiều đường độ rộng mỗi chiều đường là 3m.

(1) Vị trí xe ô tô tải 60C-119.48.

(2)Vị trí xe mô tô 67D1-267.96

(3)Vị trí nạn nhân

(4)Vết phanh xe ô tô tải

(5)Vết cày xe mô tô

(*) Trụ điện 16/40

Điểm mốc là trụ điện số 16/40; lấy mép lề đường bên phải hướng Quốc lộ 1 đi Biên Hòa làm chuẩn.

Mô tả vị trí.

(1) Xe ô tô tải: Xe dừng trên mặt đường, đầu hướng Quốc lộ 1, đo từ trục trước bên trái đến lề chuẩn là 1,4m; trục sau bên trái đến lề chuẩn là 1,2m.

(2) Xe mô tô nằm ngã nghiêng bên trái ở lề đường đất bên phải theo hướng Quốc lộ 1 đi Biên Hòa, đầu xe hướng về lề trái; đo từ trục trước đến lề chuẩn là 0,1m, trục sau đến lề chuẩn là 0,9m, đo từ trục trước đến trục sau bên trái xe (1) là 7,8m.

(3) Nạn nhân nằm ngửa ở lề đường bên phải hướng Quốc lộ 1 đi Biên Hòa, đầu nạn nhân hướng lề chuẩn, đo từ đỉnh đầu đến lề chuẩn là 1,1m, đo từ gót chân bên phải đến lề chuẩn là 0,1m, đo từ đỉnh đầu đến trục sau xe (2) là 4,1m.

(4) Vết phanh xe (1), vết phanh nằm trên mặt đường đầu vết phanh hướng Quốc lộ 1, điểm cuối vết phanh là bánh sau bên phải xe (1); đo từ đầu vết phanh đến lề chuẩn là 3m, đo từ đầu vết phanh đến điểm cuối vết phanh là 42,4m.

(5) Vết cày xe mô tô (2), vết cày nằm trên mặt đường đầu vết cày hướng Quốc lộ 1, điểm cuối vết cày là gác để chân trước bên trái xe (2), đo từ đầu vết cày đến lề chuẩn là 2,4m, đo từ đầu vết cày đến điểm cuối vết cày là 23,2m, đo từ đầu vết cày đến đầu vết phanh xe (1) là 11,2m.

Cột điện số 16/40, đo từ cột điện đến trục trước bên trái xe (1) là 24,5m.” (bút lục 150-151).

Cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom đã trưng cầu giám định dấu vết va chạm giữa các phương tiện. Tại bản kết luận giám định số 4772/KL-KTHS ngày 09/8/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ Công an kết luận:

“1. Xe ô tô biển số 60C-119.48 và xe mô tô biển số 67D1-267.96 có va chạm với nhau. Vị trí va chạm và chiều hướng va chạm: Phía trước xe ô tô có chiều từ trước về sau và phía trước xe mô tô có chiều từ trước về sau.

2. Khi xảy ra va chạm hai phương tiện trong trạng thái lưu thông chưa đổ ngã xuống đường, xe mô tô lưu thông trên đường Bắc Sơn – Long Thành, hướng từ Quốc lộ 1 đi Biên Hòa và xe ô tô trong trạng thái lưu thông theo chiều ngược lại, va chạm vào nhau trên phần đường bên phải đường Bắc Sơn – Long Thành, hướng Quốc lộ 1 đi Biên Hòa. Cơ chế hình thành dấu vết:

- Dấu vết trượt xước mất chất màu xanh, gãy vỡ biến dạng các chi tiết phía trước xe ô tô (biển số, cản trước, khung tản nhiệt, ốp trước đầu xe) có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước bám chất màu xanh, gãy vỡ, biến dạng các chi tiết phía trước xe mô tô (bánh xe, cung trước chắn bùn, mặt nạ, ốp đầu xe, cụm đèn trước) có chiều từ trước về sau;

- Dấu vết nứt vỡ kính chắn gió phía trước ca-bin xe ô tô có chiều từ trước về sau phù hợp với va chạm với vật cản.

3. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ô tô và xe mô tô nêu trên với phương tiện khác tại thời điểm xảy ra tai nạn” (bút lục 123).

Cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom đã trưng cầu giám định nguyên nhân tử vong và nồng độ cồn trong máu của anh Lâm S. Tại Bản kết luận giám định tử thi số 1472/KL-KTHS ngày 20/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận như sau:

“1. Các kết quả chính: bên ngoài xây sát, rách da vùng mặt hai bên; gãy răng cửa; xây sát rách da hố thượng đòn, xước da vùng bụng; rách da vùng đùi và đầu gối, gãy hở xương đùi trái. Giải phẫu khoang lồng trái có máu lỏng, phổi trái dập rách tụ máu, trong lòng khí quản đoạn cổ có máu lỏng.

2. Nguyên nhân tử vong: Sốc đa chấn thương; chấn thương ngực kín dập rách nhu mô phổi, tràn máu đường thở/gãy hở xương đùi, gãy răng cửa hai hàm” (bút lục 129).

Kết quả nồng độ Ethanol trong máu của anh S là 293.88mg/100ml (bút lục 131).

Trên cơ sở kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận dấu vết va chạm đã xác định được nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là do Mai Văn T điều khiển xe ô tô tải biển số 60C-119.48 lưu thông không đúng phần đường gây ra tai nạn và hậu quả như trên.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe ô tô biển số 60C- 119.48 (kèm giấy chứng nhận đăng ký và giấy chứng nhận kiểm định xe); 01 xe mô tô biển số 67D1-267.9; 01 giấy phép lái xe hạng C số 750214014365 cấp cho Mai Văn T và 01 USB ghi lại diễn biến hình ảnh vụ tai nạn.

Ngày 19/9/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom ban hành quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Mai Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” để điều tra. Quá trình điều tra T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên (thể hiện tại các bút lục số 33-47).

Tại cáo trạng số 327/CT-VKS-TB, ngày 27/11/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo Mai Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị cáo trình bày: Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố và không có ý kiến gì khác.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Mai Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; Không có tiền án, tiền sự; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả và được đại diện gia đình bị hại làm đơn bãi nại cho bị cáo; Gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính và đang nuôi 03 con nhỏ và đã từng tham gia quân đội.

Về mức hình phạt: Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo hưởng án treo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260 và các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bịa cáo.

*Về phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại và chi phí mai táng cho gia đình anh Lâm S số tiền 100.000.000 đồng và bồi thường chi phí điều trị thương tích cho anh Trần Thuận số tiền 34.000.000 đồng. Gia đình anh S và anh Thuận đã làm đơn bãi nại, anh Thuận có đơn từ chối giám định thương tích và cam kết không yêu cầu, khiếu nại gì về sau (bút lục 48-60; 80-87).

*Xử lý vật chứng:

Đối với 01 USB ghi lại diễn biến hình ảnh vụ tai nạn là chứng cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử lưu kèm hồ sơ vụ án.

Đối với 01 xe ô tô biển số 60C-119.48 là tài sản của anh Nguyễn Văn Dương nhận chuyển nhượng của anh Nguyễn Quốc Chính, sinh năm 1973, địa chỉ: 609 tổ 9, khu phố 3, phường An Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Xe có nguồn gốc hợp pháp, Cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom đã trả lại xe (kèm theo giấy chứng nhận đăng ký và giấy chứng nhận kiểm định) cho anh Dương (bút lục 61-68;135).

Đối với 01 xe mô tô biển số 67D1- 267.96, kết quả tra cứu xe do bà Nguyễn Thị Bé Quyên địa chỉ: tổ 9, ấp Khánh Hòa, xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đứng tên sở hữu. Hiện nay bà Quyên không có mặt ở địa phương Cơ quan điều tra chưa làm việc được nên tách ra làm rõ xử lý sau.

Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C số 750214014365 đề nghị Tòa tuyên trả lại cho bị cáo T.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích và ra Quyết định dẫn giải bị hại Trần Thuận đến Trung tâm Pháp y để giám định thương tích nhưng anh Thuận đã từ chối giám định thương tích và không chấp hành quyết định dẫn giải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Thực tế có cơ sở chứng minh, vào khoảng 00 giờ 20 phút ngày 21/7/2024 Mai Văn T (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô tải biển số 60C-119.48 lưu thông trên đường Bắc Sơn- Long Thành theo hướng thành phố Biên Hòa đi Quốc lộ 1. Khi đến km 02+300 thuộc ấp Phú Sơn, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Do bị hại anh Lâm S lưu thông gần giữa phần tim đường, khoản cách gần nên bị cáo T đã đánh tay lái S trái và điều khiển xe lưu thông không đúng phần đường làm cho phía trước đầu ô tô biển số 60C-119.48 va chạm vào phía trước đầu xe mô tô biển số 67D1-267.96 do anh Lâm S điều khiển chở theo anh Trần Thuận ngồi phía sau đang theo hướng ngược lại. Hậu quả làm anh S tử vong tại chỗ.

Hành vi trên đây của Mai Văn T đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng, Khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ” nên đã phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khỏan 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn là do anh Lâm S đã sử dụng rượu bia, nồng độ cồn trong máu là 293.88mg ( vượt quá 80mg/100ml) điều khiển xe mô tô lưu thông hướng ngược lại gần giữa tim đường, bị cáo Mai Văn T không quan sát kỹ, do khoảng cách gần nên bị cáo đánh lái S trái nên đầu xe của bị cáo điều khiển va chạm với xe mô tô biển số 67D1-267.96 do anh Lâm S điều khiển chở theo anh Trần Thuận lưu thông theo hướng ngược lại, hậu quả anh S chết tại chỗ. Lỗi của bị cáo là do khoảng cách gần nên không quan sát và lưu thông không đúng phần đường quy định. Trong vụ án này bị hại có một phần lỗi là sử dụng rượu bia không làm chủ tay lái, không có giấy phép lái xe và không điều khiển xe mô tô sát lề bên phải khi tham gia giao thông.

Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã vi phạm Luật giao thông đường bộ, không những là 01 phần nguyên nhân gây ra cái chết cho bị hại mà còn gây mất trật tự trị an giao thông đường bộ nên cần có mức án đủ nghiêm cho bị cáo.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom thì thấy: Xét thấy bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại và được đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và gia đình có hoàn cảnh khó khăn; Bị cáo là lao động chính đang nuôi con nhỏ và đã từng phục vụ tại quân ngũ.

Về hình phạt: Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và trong thời gian tại ngoại, bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Các Điều 2, 3, 4, 5 và 6 của Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội và cho bị cáo hưởng án treo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo.

Một USB dữ liệu ghi lại diễn biến vụ tai nạn (đã được sao chép từ camera an ninh nhà dân khu vực xảy ra tai nạn) được lưu theo hồ sơ vụ án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định nêu trên nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 ( đã được sửa đổi bổ sung năm 2017); Các điều 2, 3, 4, 5 và 6 của Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

- Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

+ Xử phạt bị cáo 01(một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02(hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 26/12/2024).

Giao bị cáo Mai Văn T cho Ủy ban nhân dân phường Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo dõi, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Ủy ban nhân dân phường Tam Phước, tỉnh Đồng Nai có trách nhiệm thông báo ngay cho Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai để Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Trả lại giấy phép lái xe hạng C số: 750214014365 do Sở giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 31/12/2021 cho bị cáo Mai Văn T.

3. Một USB dữ liệu ghi lại diễn biến vụ tai nạn (đã được sao chép từ camera an ninh nhà dân khu vực xảy ra tai nạn) được lưu theo hồ sơ vụ án.

4. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày. Người có mặt kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ