vanban.org

Bản án 316/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 22/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo NVT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: NVT 5 (lăm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2022. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: - 01 bì niêm phong kí hiệu T1 bì niêm phong chứa 0,163gam chất ma túy.- 01 bì niêm phong kí hiệu T2 bì niêm phong chứ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn Toản - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo NVT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 316/2022/HSST
Ngày 22/9/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu.

2. Ông Triệu Đức Tươi.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Đức Chính, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 22/9/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 330/2022/HSST ngày 08/9/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 372/2022/QĐXXST-HS ngày 08/9/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: NVT; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1995, tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: Xóm B, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, Đ thể): Không; Con ông: Nông Văn H, sinh năm 1971; Con bà: Vương Thị T, đã chết; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 03; Vợ, con: Chưa có; - Tiền án: 02 tiền án: Cụ thể: + Tại Bản án số 56/2017/HSST ngày 25/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 03/7/2018. Chấp hành xong án phí ngày 21/8/2017.

+ Tại Bản số 115/2019/HSST ngày 05/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 19/9/2021. Chấp hành xong án phí ngày. 26/11/2019.

- Tiền sự, nhân thân: Không.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2022 đến nay). (Có mặt tại phiên tòa).

Ngƣời làm chứng: Ông DXB, sinh năm 1962. Trú tại: Xóm Đ, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa)

Ngƣời chứng kiến: Anh NHĐ, sinh năm 1977, trú tại Tổ 6, phường T, thành phố Thái Nguyên. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 09 giờ 25 phút ngày 19/7/2022, tổ công tác của Công an phường T, thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 06 của phường phát hiện 01 nam thanh niên đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20F4-9903 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên khai tên là NVT và tự giác lấy từ túi quần phía trước bên phải ra 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác. T khai nhận số chất bột màu trắng trên là Heroine mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, thu giữ vật chứng theo quy định (BL: 12-13).

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của NVT có khối lượng 0,174 gam, lấy toàn bộ số bột màu trắng trên đưa vào bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định.Cho toàn bì niêm phong ban đầu vào bì niêm phong kí hiệu T2 lưu kho (BL: 40).

Tại Kết luận giám định số 1127/KL-KTHS ngày 27/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine,cókhối lượng thu giữ ban đầu là 0,174 gam(BL:42).

Tại Cơ quan điều tra, NVT khai nhận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19/7/2022, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20F4-9903 đi từ nhà đến khu vực ngã ba T thuộc phường T, thành phố Thái Nguyên để tìm mua Heroine sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, T cất vào trong túi quần phía trước bên phải rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi tìm nơi để sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường T, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang như nêu trên.

Lời khai nhận của NVT phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiếnvà các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án: - 02 bì niêm phong kí hiệu T1, T2.

- 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 20F4-9903, xe cũ, đã qua sử dụng. Đăng ký xe mang tên DXB, sinh năm 1962; HKTT: Xóm Đ, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên).

Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Bản cáo trạng số 356/CT-VKSNDTPTN ngày 07/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố NVT về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm o, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, trong phần luận tội đối với bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo NVT phạm tội Tàng trữ trái phép ma túy. Đề nghị: Áp dụng điểm o, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự. Đề xuất xử phạt NVT mức án từ 5 năm đến 6 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định..

Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Trong phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội.

Bị cáo nói lời sau cùng: Hành vi của bị cáo là sai và vi phạm pháp luật xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1] .Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người liên quan, người chứng kiến và những chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 19/7/2022, tại khu vực tổ 06, phường T, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, NVT đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,174 gam Heroine, để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường T, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo là người đủ năng lực hành vi trách nhiệm dân sự và biết ma túy là vật cấm và được Nhà nước quản lý nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép ma túy là 0,174 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại bản án hình sự 115/2019/HSST ngày 05/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. bản án trên đã xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 19/9/2021. Tính đến lần phạm tội này bị cáo chưa được xóa án tích theo quy định. Do vậy hành vi phạm tội lần này của bị cáo là tình tiết định khung hình phạt thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm và đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o, khoản 2, Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều 249 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine,…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

....

o) Tái phạm nguy hiểm.”

Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.

Xét tính chất mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương và là một trong các nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác..

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị xét xử bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội lại nghiện ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp..

Vật chứng của vụ án: + Cần tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong kí hiệu T1, T2.

+ Tạm giữ để đảm bảo Thi hành án: 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 20F4-9903, xe cũ, đã qua sử dụng. Đăng ký xe mang tên DXB, sinh năm 1962; HKTT: Xóm Đ, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên), ông B xác định đã bán cho một người không quen biết vào năm 2012 và ông không có yêu cầu gì. T khai mua của một người đàn ông tên Minh (không rõ lai lịch, địa chỉ) là người làm gỗ cùng T vào ngày 30/6/2022, khi mua xe không có giấy tờ mua bán gì với giá 800.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định xe trên bị cáo sử dụng vào công việc lao động hàng ngày và không sử dụng vào mục đích phạm tội, do đó cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ NVT khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực ngã ba T thuộc phường T, thành phố Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở làm rõ để xử lý.

Về hình phạt bổ sung và án phí:

- Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản và thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

1. Bị cáo NVT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ vào điểm o, khoản 2, Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s, khoản 1, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

2. Xử phạt: NVT 5 (lăm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2022.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: - 01 bì niêm phong kí hiệu T1 bì niêm phong chứa 0,163gam chất ma túy.- 01 bì niêm phong kí hiệu T2 bì niêm phong chứa vỏ bao gói mẫu.

+ Tạm giữ để đảm bảo Thi hành án: 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 20F4-9903, số khung C14U-405082; số maysGU-405082, loại xe 02 bánh từ 50-175cm3, số loại M3K, dung tích xilanh 101, nhãn hiệu MAGIC, mầu sơn xanh.

Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo tình trạng biên bản giao nhận vật chứng số 411 ngày 22/9/2022.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo NVT phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ