vanban.org

Bản án 316/2022/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 03/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố

tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy Q, sửa bản án sơ thẩm số Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 316/2022/HS-PT
Ngày: 03/8/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Nguyễn.

Các Thẩm phán:

1. Ông Ngô Đức Thụ.

2. Ông Đặng Hồng Sơn.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Minh Phước - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Thanh Thuận - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 02 và 03 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc

thẩm thụ lý số 254/2022/HSPT ngày 28/6/2022 đối với bị cáo Nguyễn Duy Q do

có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 67/2022/HS-ST ngày

10/5/2022 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Duy Q, sinh năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú:

96/12 CD, Tổ A, Khu phố B, phường P, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề

nghiệp: không; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính:

nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ và bà Nguyễn Thị Đ (đã chết); sống

chung như vợ chồng với Ngô Hữu Kim N, có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền

sự: không. Bị cáo tại ngoại. (có mặt).

Trong vụ án này, còn có bị hại Công ty TNHH Thương mại Nội thất Xây

dựng An Bình do bà Nguyễn Thị Cảm là đại diện theo pháp luật không có kháng

cáo, không bị kháng nghị. Xét thấy không cần thiết phải có mặt tại phiên tòa

phúc thẩm nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 24/5/2021, Nguyễn Duy Q rủ Tha (là bạn quen biết

ngoài xã hội, sử dụng Facebook tên Trần Tha, không rõ nhân thân lai lịch) đi vét

dầu cặn trên tàu chở dầu, bán lấy tiền, Tha đồng ý. Q về nhà tại địa chỉ 96/12 đường Chuyên Dùng 9, phường Phú Mỹ, Quận 7, lấy xuồng máy của mình chở Tha đi trên sông Nhà Bè tìm tàu chở dầu nhưng không thấy. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 25/5/2021, khi đang đi trên sông, Q phát hiện 01 nhà kho đựng đồ của Công ty TNHH Thương mại Nội thất Xây dựng An Bình do bà Nguyễn Thị Cảm làm đại diện theo pháp luật, tại công trình chống ngập trên đường Đào Trí, khu phố 1, phường Phú Mỹ, Quận 7, sát bờ sông không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. Q rủ Tha cùng trộm cắp, Tha đồng ý. Cả hai đậu xuồng máy sát bờ sông, rồi lên bờ vào kho tìm tài sản trộm cắp. Khi đến kho hàng, Q thấy cửa kho có khóa ngoài nên dùng 01 thanh sắt dài khoảng 1m nhặt gần đó, nạy ổ khóa đột nhập vào trong kho lấy trộm tài sản gồm: 01 máy khoan hiệu FEG, 02 máy khoan hiệu Bosch, 01 máy hàn hiệu Poney, 01 máy hàn hiệu Mitsu, 01 máy cắt hiệu Maktec, 01 máy cắt hiệu Bosch, 01 máy cắt cầm tay hiệu Makita, 02 mô tơ bơm nước, 01 mô tơ máy trộn, 01 máy bắn cos, 10 cây sắt φ10, 08 cây sắt mạ kẽm.

Lấy trộm được tài sản, Q và Tha đem xuống xuồng máy tẩu thoát. Sau đó,

đem bán số tài sản trộm được cho 01 cặp vợ chồng (không rõ lai lịch) hành nghề mua bán sắt vụn với giá 1.940.000 đồng. Bán xong, cả hai về đi ăn sáng hết 100.000 đồng, số tiền còn lại, Q và Tha chia nhau mỗi người được hưởng 920.000 đồng, Q tiêu xài cá nhân hết. Đến sáng ngày 25/5/2021, phát hiện mất tài sản, Công ty TNHH Thương mại Nội thất Xây dựng An Bình đã trình báo công an. Công an phường Phú Mỹ, Quận 7, xác minh đưa Q về làm rõ xử lý. Riêng đối tượng Tha (không rõ nhân thân lai lịch) đã bỏ trốn.

Tại Cơ quan điều tra, Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Ngày 13/7/2021, Nguyễn Duy Q nộp lại tài sản trộm cắp gồm 01 máy

khoan hiệu FEG, 02 máy khoan hiệu Bosch, 01 máy hàn hiệu Poney, 01 máy hàn hiệu Mitsu, 01 máy cắt hiệu Maktec, 01 máy cắt hiệu Bosch, 01 máy cắt cầm tay hiệu Makita. Còn 02 máy mô tơ bơm nước; 01 mô tơ của máy trộn; 01 máy bắn Cos, 10 cây sắt φ10, 08 cây sắt mạ kẽm không thu hồi được.

Vật chứng thu giữ của bị cáo: số tiền 240.000 đồng; 01 cây sắt φ 10 màu

đen dài khoảng 1m, Q dùng để nạy ổ khóa; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A12; 01 ghe máy bằng nhựa Composite, dài 6,3m không có số đăng ký và 01 động cơ máy xăng dùng để chạy ghe máy hiệu Yana. Đối với: 01 máy hàn hiệu Mitsu, 01 máy hàn hiệu Poney, 02 máy khoan hiệu Bosch, 01 máy cắt hiệu Maktec, 01 máy cắt hiệu Bosch, 01 máy khoan hiệu FEG đã qua sử dụng là tài sản Q giao nộp, cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại nội thất xây dựng An Bình.

Tại bản Kết luận định gía tài sản số 294/KL-HĐĐGTTHS ngày 30/7/2021

của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 7, kết luận: 01 máy khoan hiệu FEG, trị giá: 950.000 đồng; 02 máy khoan hiệu Bosch, trị giá: 1.500.000 đồng; 01 máy hàn hiệu Poney, trị giá: 2.100.000 đồng; 01 máy hàn hiệu Mitsu, trị giá: 2.000.000 đồng; 01 máy cắt hiệu Maktec, trị giá: 750.000 đồng; 01 máy cắt hiệu Bosch, trị giá: 800.000 đồng; 01 máy cắt cầm tay hiệu Makita, trị giá: 950.000 đồng; 10 cây sắt φ 10, trị giá: 136.000 đồng x 10

cây = 1.360.000 đồng; 08 cây sắt mạ kẽm, trị giá: 520.000 đồng x 08 cây =

4.160.000 đồng. Tổng giá trị: 14.570.000 đồng.

Đối với 02 máy mô tơ bơm nước; 01 mô tơ của máy trộn; 01 máy bắn Cos

đã qua sử dụng, không rõ nhãn hiệu, không thu hồi được: Do không xác định

được nhãn hiệu, thông số kỹ thuật nên Hội đồng định giá không thể tiến hành

định giá.

Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH Thương mại Nội thất Xây dựng

An Bình do bà Nguyễn Thị Cảm làm đại diện theo pháp luật đã nhận lại số tài

sản do bị cáo Q giao nộp. Đối với 10 cây sắc phi 10, 08 cây sắc mạ kẽm trị giá

5.520.000 đồng, không thu hồi được, bà Cảm yêu cầu bị cáo bồi thường, ngày

22/4/2022 bị cáo đã bồi thường. Đối với số tài sản 02 máy mô tơ bơm nước; 01 mô

tơ của máy trộn; 01 máy bắn cos đã cũ, không rõ nhãn hiệu không định giá

được, bà Nguyễn Thị Cảm khai mua đã lâu nên không còn chứng từ, không nhớ

giá trị bao nhiêu nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSQ7 ngày 21/02/2022, Viện kiểm sát nhân

dân Quận 7 truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ

luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 67/2022/HS-ST ngày 10/5/2022 của Tòa án

nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Nguyễn Duy Q 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền

kháng cáo theo luật định.

Ngày 24/5/2022, bị cáo Nguyễn Duy Q có đơn kháng cáo đối với bản án

hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 7 với nội dung xin được hưởng án

treo. Ngày 08/6/2022, bị cáo có đơn kháng cáo bổ sung đề nghị Toà án cấp phúc

thẩm xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt

hại hoặc gây thiệt hại không lớn và đã được bị hại bãi nại theo điểm h khoản 1,

khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, đề nghị xem xét thêm việc bị cáo

trộm cắp tài sản không có dự định từ trước.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Nguyễn Duy Q đã thừa

nhận những hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản án sơ thẩm đã

nêu, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do: bị cáo không có tình tiết

tăng nặng trách nhiệm hình sự; đã nhận thức được việc làm của mình là sai trái;

thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo

có nơi cư trú rõ ràng; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại và được bị hại bãi

nại xin cho bị cáo được hưởng án treo; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp

ít nghiêm trọng; bị cáo đang phải điều trị bị bệnh viêm tuỵ cấp; mức án Tòa án

cấp sơ thẩm đã tuyên là quá nặng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh xác định bản án sơ thẩm đã áp dụng đúng các căn cứ pháp luật để xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo trong thời gian hợp lệ. Tại phiên tòa bị cáo kháng cáo mong được hưởng án treo. Nhận thấy, cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo có nhân tốt, chưa có tiền án tiền sự; đã được bị hại bãi nại nên đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có đủ các điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; đểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, đề nghị xử phạt bị cáo 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng.

Bị cáo Nguyễn Duy Q không tranh luận, chỉ xin được hưởng án treo để có

điều kiện ở ngoài lao động, chăm sóc cho con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 7,

Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân Quận 7, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận 7, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Nguyễn Duy Q đã thừa

nhận hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Cụ thể: Khoảng 02 giờ sáng ngày 25/5/2021, Nguyễn Duy Q cùng đối tượng Tha (không rõ lai lịch) đã bẻ khoá và đột nhập vào nhà kho đựng đồ của Công ty TNHH Thương mại Nội thất Xây dựng An Bình thuộc công trình chống ngập trên đường Đào Trí, khu phố 1, phường Phú Mỹ, Quận 7 lén lút trộm cắp tài sản gồm: 01 máy khoan hiệu FEG, 02 máy khoan hiệu Bosch, 01 máy hàn hiệu Poney, 01 máy hàn hiệu Mitsu, 01 máy cắt hiệu Maktec, 01 máy cắt hiệu Bosch, 01 máy cắt cầm tay hiệu Makita, 10 cây sắt φ10, 08 cây sắt mạ kẽm có tổng trị giá 14.570.000 đồng. (Theo Kết luận định giá tài sản số 294/KL-HĐĐGTTHS ngày 30/7/2021 của Hội đồng định giá TTHS UBND Quận 7).

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan

điều tra và các tài liệu chứng cứ khác như các biên bản hoạt động điều tra, biên

bản hỏi cung bị can, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận giám định….

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo

khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng

người, đúng tội, không oan sai.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng

trách nhiệm hình sự và áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự như: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo,

ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản đã thu

hồi 1 phần để trả cho bị hại, đối phần tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được

bị cáo cũng đã bồi thường cho bị hại theo điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật

hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đồng thời, xem xét, đánh giá tính

chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo, từ đó xử phạt bị cáo với mức án 09

(chín) tháng tù.

Đối với kháng cáo của bị cáo:

Nhận thấy việc bị cáo chủ động giao nộp lại một phần tài sản chiếm đoạt

và đã bồi thường cho bị hại trị giá tài sản không thu hồi được, đây là tình tiết

giảm nhẹ bồi thường, khắc phục hậu quả theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật

hình sự đã được Toà án cấp sơ thẩm áp dụng nên không có căn cứ để áp dụng

cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt

hại không lớn theo điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên, xét bị cáo đã được bị hại bãi nại xin cho bị cáo được hưởng án

treo; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; hiện đang bị bệnh viêm tuỵ

cấp; bị cáo mồ côi cha mẹ từ nhỏ; hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn được

UBND phường Phú Mỹ, Quận 7 xác nhận. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới

theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng thêm cho bị cáo.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra ít

nghiêm trọng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có các

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã kể trên; có nơi cư trú cụ thể, rõ

ràng. Đối chiếu quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5

năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số

01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án

nhân dân tối cao thì bị cáo có đủ các điều kiện được hưởng án treo và việc cho

bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng

xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Vì vậy, để tạo điều kiện cho bị cáo sớm tái hòa nhập cộng đồng, làm việc,

sửa chữa lỗi lầm, trở thành người lương thiện sống có ích cho xã hội và thể hiện

tinh thần nhân đạo, chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự đối với người

phạm tội lần đầu. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp

hành hình phạt tù mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ

sung năm 2017 cho bị cáo hưởng án treo với thời gian thử thách nhất định cũng

đảm bảo tính răn đe, ngăn ngừa tội phạm.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chấp nhận quan

điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo. Do chấp nhận kháng cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố

tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy Q, sửa bản án sơ thẩm số

67/2022/HS-ST ngày 10/5/2022 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều

65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Q 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Duy Q cho Ủy ban nhân dân phường Phú Mỹ, Quận

7, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi

hành án hình sự 02 lần trở lên, thì tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Nguyễn Duy Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

(Đã giải thích án treo).

Cỡ chữ