vanban.org

Bản án 316/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Hữu T phạm tội Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có.

Xử phạt bị cáo Hoàng Hữu T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù đƣợc tính từ ngày 19/8/2017. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Hữu Trường - Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm t…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Hữu T phạm tội Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 316/2017/HSST
Ngày: 29-11-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nguyệt Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Kim Châu Hổ;

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 322/2017/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2017 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 322/2017/HSST-QĐ ngày 17 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Hoàng Hữu T, sinh năm 1991 tại tỉnh Q; thƣờng trú: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Q; Chỗ ở : Số 18/56 tổ 19, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Thợ thạch cao; trình độ văn hóa: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Hoàng Văn T, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963; vợ tên Phan Hải V, sinh năm 1995, có 01 con sinh năm 2016; bị cáo có 04 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/8/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Phƣớc T, sinh năm 1981; thƣờ ng trú : Ấp T, xã V, huyện C, tỉnh A. Vắng mă ̣t;

2. Bà Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1986; thƣờng trú: Tổ 16, ấp H, xã A, huyện C, tỉnh A. Vắng mă ̣t.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Thắng L, sinh năm 1995; Thƣờng trú: Số 16A/26, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Ngày 13/8/2017, Hoàng Hữu T đi đám cƣới bạn tại nhà hàng H thuộc khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B và quen biết với đối tƣợng tên H (không rõ lai lịch). H rủ T tham gia tiêu thụ xe máy trộm cắp từ tinh B về tỉnh L, T đồng ý.̉

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 18/8/2017, H điện thoại cho T hẹn sáng ngày 19/8/2017 đi cùng H nhận xe và mang đi tiêu thụ. Đến khoảng 05 giờ ngày 19/8/2017, H gọi điện cho T qua số điện thoại 01687412628 và nói H sẽ đến đón T tại phòng trọ của T tại tổ 19 khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. H chở T đến đoạn đƣờng đại lộ T gặp hai đối tƣợng (không rõ lai lịch) để nhận xe mô tô hiệu Wave biển số 67C1-260.31. Sau khi nhận xe, H nói T điều khiển xe về tỉnh L để giao xe cho một ngƣời tên B (không rõ lai lịch) và B sẽ trả cho T 500.000 đồng. T điều khiển xe mô tô biển số 67C1-260.31 khi đi đến đoạn đƣờng thuộc tổ 19 khu phố T, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B thì gặp tổ tuần tra công an phƣờng A yêu cầu dừng xe kiểm tra, T bỏ xe chạy bộ đƣợc khoảng 5m thì bị bắt giữ. Tại Công an phƣờng A, T đã đầu thú nên Công an phƣờng A lập biên bản ngƣời phạm tội đầu thú và chuyển cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D xử lý.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô Wave màu xanh biển số 67C1-260.31, số khung 481445, số máy 5481551;

- 01 biên bản vi phạm hành chính số 025035;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202 ốp lƣng gỗ màu nâu, sim số 01687412628;

- 01 thẻ bảo hiểm và 01 thẻ học sinh mang tên Nguyễn Hoàng Thái T;

- 01 chìa khóa xe đầu mài nhọn, quấn băng keo hai mặt màu đen.

Kết luận định giá tài sản số 220/BB.ĐG ngày 28/8/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: xe mô tô Wave màu xanh biển số: 67C1-260.31, số khung 481445, số máy 5481551 có giá trị 12.000.000 đồng.

Ông Nguyễn Phƣớc T là chủ sở hữu xe mô tô Wave màu xanh biển số: 67C1-260.31, số khung 481445, số máy 5481551. Ngày 18/8/2017, ông T bị mất xe tại khu phố 4, phƣờng M, thị xã B, tỉnh B và đã làm đơn trình báo đến Công an phƣờng M, thị xã B, tỉnh B. Ngày 25/8/2017, Công an thị xã B đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trộm cắp tài sản. Ông T đã nhận lại xe cùng biên bản vi phạm hành chính số 02503501, 01 thẻ bảo hiểm và 01 thẻ học sinh mang tên Nguyễn Hoàng Thái T và không có yêu cầu gì khác.

Đối với tên H cùng các đối tƣợng đã có hành vi giao xe cho T do chƣa xác minh đƣợc nhân thân lai lịch nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận luận định giá số 220/BB.ĐG ngày 28/8/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An nêu trên.

Tại cáo trạng số 305/QĐ - KSĐT ngày 23 tháng 10 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Hoàng Hữu T về tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có” theo Khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 250; Điểm g, h, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Hoàng Hữu T mức án từ 07 tháng tù đến 10 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động Nokia 1202 ốp lƣng gỗ màu nâu, tịch thu tiêu hủy sim số 01687412628 và chìa khóa xe đầu mài nhọn, quấn băng keo hai mặt màu đen.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác.

Tại phiên tòa, bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Hữu T không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những ngƣời làm chứng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nô ̣i dung : Ngày 19/8/2017, Hoàng Hữu T có hành vi tiêu thụ tài sản mà Trƣờng biết rõ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có là xe mô tô Honda Wave màu xanh biển số: 67C1-260.31, số khung 481445, số máy 5481551, tài sản có giá trị 12.000.000 đồng, để đƣợc hƣởng lợi số tiền 500.000 đồng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự thì “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Nhƣ vậy, hành vi trên đây của bị cáo Hoàng Hữu T đồng ý nhâ ̣n tài sản khi biết rõ là tài sản do phạm tội mà có với tài sản có giá trị 12.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội tiêu thu ̣ tài sản do ngƣờ i khác pha ̣m tô ̣i mà có.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo Hoàng Hữu T thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ngƣời bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời đã thành niên nhận thức rõ hành vi tiêu thu ̣ tài sản do ngƣờ i khác pha ̣m tô ̣i mà có là vi phạm pháp luật, nhƣng vì tham lam tƣ lợi đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Hữu T không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; sau khi pha ̣m tô ̣i bi ̣ cáo đa ra đẫ

̀u thú . Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại, tại cơ quan điều tra ngƣời có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xử lý vật chứng:

- Xét 01 điện thoại di động Nokia 1202 ốp lƣng gỗ màu nâu của bị cáo Hoàng Hữu T là tài sản sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nƣớc;

- Đối với sim số 01687412628 và chìa khóa xe đầu mài nhọn, quấn băng keo hai mặt màu đen đa hết giã

́ tri ̣ sƣ̉ du ̣ng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hoàng Hữu T phải nộp theo quy định tại Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Hữu T phạm tội Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có.

Áp dụng Khoản 1 Điều 250; Điểm h, p Khoản 1 và Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Hữu T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù đƣợc tính từ ngày 19/8/2017.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động Nokia 1202 ốp lƣng gỗ màu nâu;

- Tịch thu tiêu hủy sim số 01687412628 và chìa khóa xe đầu mài nhọn, quấn băng keo hai mặt màu đen.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2017).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hoàng Hữu T phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 (Mƣời lăm) ngày, kể tƣ̀ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc đƣợc tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ