- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: Nguyễn Văn Q và Nguyễn Thị T, Bị đơn: Trần Thị T1. Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Áp d ng hoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố t ng d n sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 163 Bộ luật d n sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 315/2025/DS-PT Ngày: 30/10/2025 V/v: “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thái Bình
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Lê Phương, bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Diễm Quỳnh và ông Nguyễn Bạch Hoàng H ng - Thư T a án nh n d n t nh L m Đồng.
- Đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh âm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Mai Chăm - Kiểm sát viên.
Ngày 23-30 tháng 10 năm 2025, tại tr s T a án nh n d n t nh L m Đồng - Cơ s A, xét xử phúc thẩm công hai v án d n sự th l số 238/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”. Do bản án d n sự sơ thẩm số 112/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của T a án nh n d n huyện Đức Linh bị háng cáo. Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số 47/2025/QĐ-PT, ngày 03 tháng 3 năm 2025, Quyết định tạm ngừng phiên t a số 14/2025/QĐ-PT, ngày 20 tháng 3 năm 2025, Thông báo m lại phiên t a ngày số 10/2025/TB-TA, ngày 06 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1963; bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966; C ng nơi cư trú: Số nhà I, đường L, tổ E, hu phố C, phường T, thành phố T, t nh Bình Dương (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh), có mặt.
2. Bị đơn: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1941; nơi cư trú: Số D, đường số I, thôn N, xã Đ, huyện Đ, t nh Bình Thuận. (nay là xã T, t nh L m Đồng), có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Xu n L, sinh năm 1989;
3.2. Ông Nguyễn Đức T2, sinh năm 1990;
C ng nơi cư trú: 92, đường L, tổ E, hu phố C, phường T, thành phố T, t nh Bình Dương (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh), vắng mặt.
3.3. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1963; nơi cư trú: Số nhà A, đường Z, tổ A, thôn N, xã Đ, huyện Đ, t nh Bình Thuận (nay là xã T, t nh L m Đồng), có mặt.
3.4. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số nhà C, đường Z, tổ A, thôn B, xã Đ, huyện Đ, t nh Bình Thuận (nay là xã T, t nh L m Đồng), có mặt.
3.5 Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số nhà C, đường Đ, tổ F, thôn B, xã Đ, huyện Đ, t nh Bình Thuận (nay là xã T, t nh L m Đồng), có mặt.
4. Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị T: Ông Trương Hoài V, sinh năm 1989; nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn L, huyện T, t nh Bình Thuận (nay là xã T, t nh L m Đồng), có mặt.
5. Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Trần Thị T1:
5.1 Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số nhà C, đường Z, tổ A, thôn B, xã Đ, huyện Đ, t nh Bình Thuận (nay là xã T, t nh L m Đồng), có mặt.
5.2 Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số nhà C, đường Đ, tổ F, thôn B, xã Đ, huyện Đ, t nh Bình Thuận (nay là xã T, t nh L m Đồng), có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi cho bà Nguyễn Thị 2: Luật sư Võ Việt M – Luật sư thuộc Công ty L4, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, người đại diện trình trình bày:
Năm 1993 ông Q, bà T đi x y dựng inh tế mới tại thôn N, xã T, sau là xã Đ, huyện Đ. Quá trình sinh sống ông Q, bà T có hai hoang được một thửa đất vào năm 1994, đến năm 1996 được Ủy ban nh n d n huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng là thửa 57, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.640m2, giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số B 719627, cấp ngày 24/12/1996 đứng tên Nguyễn Văn Q, nhưng đến hoảng năm 2002, 2003 ông Q, bà T mới nhận giấy chứng nhận.
Năm 1999 ông Q, bà T đi làm ăn xa nên cho ông Nguyễn Quang L3 và bà Trần Thị T1 mượn diện tích đất này canh tác. Khoảng năm 2002, 2003 ông Q, bà T thoả thuận chuyển nhượng lại thửa đất cho ông L3 bà T1, nhưng ông L3, bà T1 hông đồng , từ đó ông L3, bà T1 vẫn tiếp t c sử d ng cho đến nay.
Tháng 4/2019 ông Q, bà T yêu cầu Ủy ban nh n d n xã Đ xác định ranh mốc thì được biết trong quá trình sử d ng đất bà T1 đã đăng
ê hai để cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất (thửa 113, tờ bản đồ số 39 (221 386-9) diện tích 1.778,9m2), việc bà T1 kê khai ông Q, bà T hoàn toàn hông biết. Sau hi phát hiện ông Q, bà T đã yêu cầu Ủy ban nh n d n xã Đ tạm dừng thủ t c để cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất cho bà T1, đồng thời yêu cầu bà T1 trả đất, nhưng bà T1 hông đồng , các bên xảy ra tranh chấp đã được Ủy ban nh n d n xã Đ, huyện Đ hoà giải nhưng hông thành.
Nên ông Q, bà T h i iện yêu cầu bà T1 phải trả lại thửa đất 57, tờ bản đồ số 02, giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số B719627, cấp ngày 24/12/1996 đứng tên Nguyễn Văn Q.
Tại phiên toà ông Q bà T giữ nguyên yêu cầu h i iện, đồng thời đồng nhận toàn bộ tài sản trên đất và thanh toán giá trị tài sản bằng tiền cho bà T1, tự nguyện hỗ trợ bà T1 số tiền 70.000.000 đồng chi phí cải tạo đất. Ngoài ra ông Q, bà T hông có yêu cầu gì hác.
Theo hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn, người đại diện trình bày:
Tháng 12/1998 ông L3, bà T1 có nhận chuyển nhượng của ông Q, bà T 02 thửa đất tại thôn N, xã T (sau là xã Đ), huyện Đ với giá 14.500.000 đồng, gồm thửa đất có diện tích 6.000m2, đã có giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, đã hoàn thành thủ t c chuyển nhượng và thửa đất có diện tích hoảng 2.000m2, thời điểm nhận chuyển nhượng ông Q, bà T cho biết chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, nguồn gốc thửa đất do ông Q, bà T hai hoang chưa được cấp quyền sử d ng đất. Sau hi nhận chuyển nhượng ông L3, bà T1 sử d ng ổn định và hằng năm đã cải tạo đất, chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng điều. Sau đó, gia đình bà T1 liên hệ Ủy ban nh n d n xã Đ đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất thì được thông báo thửa đất dính quy hoạch đường thôn 05 mét, nên chính quyền chưa thực hiện đăng , ê hai cấp quyền sử d ng.
Từ đó, gia đình bà T1 sử d ng ổn định, cho đến đầu tháng 3/2018 bà T1 có làm thủ t c đo đạc, nộp hồ sơ để xin cấp quyền sử d ng thửa đất (thửa 113, tờ bản đồ 39, diện tích 1.778,9m2), đến tháng 5/2019 Ủy ban nh n d n xã Đ thông báo thửa đất đã được cấp quyền sử d ng cho ông Q (thửa 57, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.640m2).
Nguồn gốc thửa đất là do ông L3, bà T1 nhận chuyển nhượng từ ông Q, bà T chứ hông phải mượn như ông Q, bà T trình bày. Việc mua bán giữa ông Q, bà T và ông L3, bà T1 có lập giấy tay, tuy nhiên hiện nay bị thất lạc đ u bị đơn hông cung cấp được cho Toà án.
Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn cho rằng thời điểm năm 1998 hi nhận chuyển là nhận chuyển nhượng hai thửa đất mới có giá 14.500.000 đồng, đồng thời hai thửa đất gần nhau nên mới đồng nhận chuyển nhượng. Từ hi nhận chuyển nhượng đến năm 2019 ông Q, bà T hông có tranh chấp, cũng hông có hi nào về đ i trả lại đất nên bà T1 hông đồng yêu cầu h i iện của nguyên đơn.
Đồng thời có yêu cầu phản tố yêu cầu Toà án công nhận thửa đất số 113, tờ bản đồ số 39, diện tích 1.778,9m2 toạ lạc tại tổ G, thôn N, xã Đ, huyện Đ, t nh Bình Thuận thuộc quyền quản l hợp pháp của bà Trần Thị T1; Bác bỏ yêu cầu h i iện của ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị T về việc đ i lại quyền sử d ng thửa đất số 57, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.640m2, toạ lạc tại tổ G, thôn N, xã Đ, huyện Đ t nh Bình Thuận (hiện nay là thửa đất số 113, tờ bản đồ số 39, diện tích 1778,9m2); Huỷ giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số B 719627 (vào sổ số 01322) do UBND huyện Đ cấp ngày 24/12/1996 cho ông Nguyễn Văn Q với diện tích 1.640m2, thửa đất số 57, toạ lạc tại tổ G, thôn N, xã Đ, huyện Đ t nh Bình Thuận (hiện nay là thửa đất số 113, tờ bản đồ số 39, diện tích 1.778,9m2).
Tại đơn h i iện phản tố đề ngày 10/9/2024, đơn h i iện phản tố ngày 13/9/2024 nộp tại phiên toà và tại phiên toà đại diện theo uỷ quyền của bị đơn đề nghị ông Nguyễn Văn Q bà Nguyễn Thị T tiếp t c thực hiện hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 57, diện tích 1.640m2 toạ lạc tại tổ G, thôn N, xã Đ, huyện Đ t nh Bình Thuận (hiện nay là thửa đất số 113, tờ bản đồ số 39, diện tích 1778,9m2) cho bà Trần Thị T1.
Theo hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân L, ông Nguyễn Đức T2 trình bày:
Đề nghị Toà án chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn, liên quan trong v án ông L, ông T2 hông có yêu cầu gì.
Theo hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1 trình bày:
Thống nhất như phần trình bày của bị đơn, người đại diện của bị đơn. Đề nghị ông Nguyễn Văn Q bà Nguyễn Thị T tiếp t c thực hiện hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 57, diện tích 1.640m2 toạ lạc tại tổ G, thôn N, xã Đ, huyện Đ t nh Bình Thuận (hiện nay là thửa đất số 113, tờ bản đồ số 39, diện tích 1.778,9m2) cho bà Trần Thị T1.
Theo hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị L2 trình bày:
Thống nhất như phần trình bày của bị đơn, đề nghị Toà án bác yêu cầu h i iện của nguyên đơn, đề nghị ông Nguyễn Văn Q bà Nguyễn Thị T tiếp t c thực hiện hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 57, diện tích 1.640m2 toạ lạc tại tổ G, thôn N, xã Đ, huyện Đ t nh Bình Thuận (hiện nay là thửa đất số 113, tờ bản đồ số 39, diện tích 1778,9m2) cho bà Trần Thị T1.
Tại Bản án d n sự sơ thẩm số 112/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024, T a án nh n d n huyện Đức Linh đã quyết định:
Căn cứ vào: Các hoản 2, 9 Điều 26, điểm a hoản 1 Điều 35, điểm a, c hoản 1 Điều 39, các Điều 147, 157, 158, 165, 166, hoản 2 Điều 227, các hoản 1, 2 Điều 228, Điều 244, Điều 271, hoản 1 Điều 273 Bộ luật tố t ng d n sự năm 2015;
- Các Điều 163, 164, 166, 168, 357, 468 Bộ luật d n sự năm 2015;
- Khoản 47 Điều 3, Điều 26, Điều 236 Luật đất đai năm 2024.
- Luật Thi hành án d n sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung;
- Điểm b hoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán T a án nh n d n tối cao hướng dẫn áp d ng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội hóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí T a án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn.
1.1 Buộc bà Trần Thị T1 phải trả lại cho ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị T thửa đất số 57, tờ bản đồ 02, diện tích 1.640m2, toạ lạc tại thôn N, xã Đ, huyện Đ, t nh Bình Thuận theo mảnh trích đo địa chính số 142-2024 là 1754,3m2 giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số B719627, vào sổ cấp giấy chứng nhận số 08/QĐ-UBĐL, ngày 26/01/1996. (Kèm theo sơ đồ).
1.2 Giao cho ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị T được quyền s hữu 20 c y Điều trên thửa đất số 57, tờ bản đồ 02, giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số B719627.
1.3 Ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm liên đới thanh toán lại giá trị 20 c y Điều cho bà Trần Thị T1 với số tiền là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
1.4 Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị T liên đới hỗ trợ cho bà Trần Thị T1 số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) chi phí cải tạo thửa đất số 57, tờ bản đồ 02, giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số B719627.
2. Không chấp nhận yêu cầu h i iện phản tố của bị đơn bà Trần Thị T1.
3. Về chi phí tố t ng:
Bà Trần Thị T1 phải hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị T số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản mà ông Q, bà T đã chi.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm c n tuyên về án phí, quyền háng cáo, quyền và nghĩa v thi hành án của các đương sự.
Ngày 07/10/2024, bà Trần Thị T1 háng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng hông chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn. Công nhận việc thỏa thuận chuyển nhượng và buộc nguyên đơn tiếp t c thực hiện việc chuyển nhượng. Hủy giấy chứng nhận quyền sử d ng đất của nguyên đơn.
Tại phiên t a phúc thẩm:
- Bà Trần Thị T1 giữ yêu cầu háng cáo.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết v án: Thư , Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tu n thủ đúng quy định của Bộ luật Tố t ng d n sự; người tham gia tố t ng chấp hành pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ hoản 2 Điều 308 BLTTDS, chấp nhận háng cáo của bà Trần Thị T1, sửa Bản án sơ thẩm số 112/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của TAND huyện Đức Linh (nay là TAND hu vực 17) theo hướng buộc bà T1 phải trả lại diện tích đất tranh chấp trên cho vợ chồng ông Q và vợ chồng ông Q có trách nhiệm hoàn trả lại tiền công sức tôn tạo đất cho bà T1 50% giá trị đất tương đương 500 triệu đồng. Bỡi lẽ các đương sự đều hông đưa ra được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình về việc cho mượn đất hay đã chuyển nhượng. Tuy nhiên các bên đều thừa nhận nguồn gốc đất là của vợ chồng ông Q, Nhà nước đã công nhận quyền sử d ng đất vợ chồng ông Q nhưng bà T1 là người trực tiếp canh tác, sử d ng từ năm 1998 đến nay nên chia đôi giá trị là ph hợp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ v án đã được thẩm tra tại phiên t a phúc thẩm; trên cơ s xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, iến trình bày tại phiên t a của các đương sự, iến của Kiểm sát viên, Luật sư, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố t ng: Người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn đề nghị thu thập thêm chứng chứ liên quan đến các thửa đất 6.000m2 và 1.640m2. T a án cấp phúc thẩm đã yêu cầu và Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai đã cung cấp chứng cứ cho Tòa án. Ủy ban nh n d n huyện Đ đã hông c n do sáp nhập t nh và thực hiện chính quyền hai cấp, nên hông trả lời cho T a án nội dung liên quan đến diện tích 6.000m2. Xét thấy với tài liệu có tại hồ sơ v án đã thu thập cấp sơ thẩm, tài liệu thu thập bổ sung cấp phúc thẩm, có thêm các bản đồ giải thửa. Đồng thời phần hỏi thêm thông tin từ Ủy ban nh n d n huyện Đ là phần 6.000m2, hông phải là đối tượng tranh chấp trực tiếp, ủy ban nh n d n huyện C hông c n. Nên hông cần thiết phải có văn bản trả lời của ủy ban huyện nữa, các tài liệu chứng cứ thu thập đã có tại hồ sơ đủ cơ s để giải quyết v án. Do vậy, T a án cấp phúc thẩm vẫn tiến hành giải quyết v án.
Xét háng cáo của bà Trần Thị T1, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án và lời hai của các đương sự trong quá trình giải quyết v án, thấy rằng:
Diện tích đất tranh chấp được xác định là 1.640m², thửa đất số 57, tờ bản đồ số 02 (nay là thửa đất số 113, tờ bản đồ số 39, diện tích 1.778,9m²) thôn N, xã Đ, huyện Đ, t nh Bình Thuận (cũ), đã được Ủy ban nh n d n huyện Đ cấp Giấy CNQSD đất số B 719627 ngày 24/12/1996 cho ông Nguyễn Văn Q.
Các bên đương sự đều xác định vào năm 1998 vợ chồng ông Q có chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông L3, bà T1 với giá 14.500.000 đồng.
Theo nguyên đơn thì ch chuyển nhượng cho vợ chồng bà T1 diện tích 6.000m² đã được cấp sổ. Phần diện tích đất tranh chấp cho vợ chồng bà T1 mượn canh tác, các bên ch thoả thuận miệng. Đến hoảng năm 2003 vợ chồng ông Q nhận được giấy chứng nhận số B719627 có liên hệ đặt vấn đề chuyển nhượng với vợ chồng bà T1. Vợ chồng bà T1 hông đồng mua, nên vợ chồng ông Q tiếp t c cho mượn canh tác cho đến nay.
Trong hi đó bị đơn cho rằng đã mua lại thửa đất này c ng lúc với thửa đất số 104, tờ bản đồ số 1, diện tích 6.000m2. Sau hi nhận chuyển nhượng thì bị đơn canh tác ổn định từ đó đến nay, nguyên đơn hông ngăn cản hay đ i lại đất. Nhưng bị đơn hông cung cấp được chứng cứ nào chứng minh cho việc chuyển nhượng diện tích 1.640m².
Tại Công văn số 2195/UBND-NC ngày 26/8/2024, Ủy ban nh n d n huyện Đ cung cấp thông tin về nguồn gốc và quá trình sử d ng đất như sau: “Nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất số 57, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.640m2 do vợ chồng ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị T tự khai phá vào năm 1994 và sử dụng đến năm 1998. Từ năm 1998 đến năm 2001 hộ bà Trần Thị T1 trồng lúa, từ năm 2001 hộ bà Trần Thị T1 trồng điều cho đến nay. Việc Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 719627 cho hộ ông Nguyễn Văn Q là đúng quy định của Luật đất đai và văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai tại thời điểm cấp quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn Q…”.
Xét lời trình bày của các bên thì cả hai bên đều hông có giấy tờ để xác định là phần diện tích 1.640m2 đã chuyển nhượng hay là cho mượn. Nhưng các đương sự đều thừa nhận đất có nguồn gốc từ ông Q, và vợ chồng bà T1 lại sử d ng từ năm 1998. Ủy ban nh n d n huyện cũng thông tin về nguồn gốc và quá trình sử d ng đất như lời hai của các đương sự. Việc cấp đất là đúng quy định của pháp luật và có tài liệu đã thu thập gồm bản đồ giải thửa, quyết định cấp đất, danh sách cấp èm theo. Như vậy ông Q và bà T có công hai phá và được cấp giấy chứng nhận, nhưng bà vợ chồng bà T1 lại là người quản l sử d ng nhiều năm, phần đất này cả hai bên đều có công sức nên cần phải được xem xét hi giải quyết.
Tại phiên t a phúc thẩm, các bên có iến thương lượng là vợ chồng ông Q – bà T chấp nhận trả cho bà T1 tiền công sức cải tạo và quản l đất tương đương 45% giá trị đất mà các bên đã thỏa thuận về giá (giá trị các bên đã thỏa thuận tính ra thành tiền là 1.040.000.000 đồng), c thể số tiền đồng trả là 450.000.000 đồng. Bà Trần Thị T1 hông đồng với mức tương đương 45%, mà yêu cầu bên ông Q lấy lại đất thì phải trả công sức cho bà mức tương đương 50%, với số tiền c thể là 500.000.000 đồng.
Xét thấy quá trình giải quyết cấp phúc thẩm, phát sinh vấn đề mới là các bên đã có thiện chí thương lượng để giải quyết v việc, mặc d chưa đạt được sự thống nhất về số tiền phải đền b công sức cải tạo, quản l đất. Nhưng nguyên đơn đã có iến đồng mức b công sức cho bị đơn. Hội đồng xét xử xét thấy mức đền b công sức của nguyên đơn đưa ra là hợp l , ghi nhận việc ông Q và bà T hoàn trả công sức mức như iến nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm.
Ông Nguyễn Quang L3 chết năm 2016, tại phiên t a phúc thẩm, có mặt các con của ông L3 và bà T1 là bà Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị H. Bà L1, bà L2, bà H thống nhất iến là các bà hông tranh chấp, hông có iến về tài sản trên, đề nghị giải quyết các quyền lợi cho bà Trần Thị T1, không cần phải giải quyết phần quyền lợi cho các bà L1, L2, H. Hội đồng xét xử căn cứ
iến của các bà L1, L2, H để giải quyết quyền lợi liên quan trong gia đình bị đơn.
Người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn đề nghị hông chấp nhận h i iện của nguyên đơn, cho rằng có căn cứ để xác định nguyên đơn đã bán đất cho bị đơn. Đồng thời đề nghị áp d ng án lệ số 33/2020/AL được Hội đồng Thẩm phán T a án nh n d n Tối cao thông qua ngày 05/02/2020. Hội đồng xét xử xét thấy hông có căn cứ để xác định nguyên đơn đã chuyển nhượng đất cho bị đơn, và trường hợp này hông có các tình tiết tương tự để áp d ng án lệ 33/2020/AL. Hội đồng xét xử ch chấp nhận quan điểm của người bảo vệ về việc bị đơn có quá trình sử d ng, một phần tinh thần của án lệ và iến của các đương sự tại phiên t a, để tính công sức cho bị đơn cho ph hợp, thỏa đáng.
Do sửa án sơ thẩm, nên cấp phúc thẩm sửa phần chi phí tố t ng, c thể là mỗi bên chịu một nữa chi phí xem xét thẩm định tại chổ, định giá, cấp sơ thẩm là 6.000.000 đồng, cấp phúc là 8.000.000 đồng. Nguyên đơn đã tạm ứng chi ra nên bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn 7.000.000 đồng.
Trong v án, T a án cấp sơ thẩm đã th l yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu Toà án công nhận thửa đất số 113, tờ bản đồ số 39, diện tích 1.778,9m2 toạ lạc tại tổ G, thôn N, xã Đ, huyện Đ, t nh Bình Thuận thuộc quyền quản l sử d ng hợp pháp của bà Trần Thị T1. Tuy nhiên phần quyết định ch tuyên hông chấp nhận phản tố mà hông ghi rõ hông chấp nhận phản tố về vấn đề gì, do đó cấp phúc thẩm bổ sung cho rõ. Cấp sơ thẩm cần rút inh nghiệm trong việc tuyên rõ nội dung.
Các phần hác của bản án sơ thẩm hông bị háng cáo, hông bị háng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Do sửa án sơ thẩm, nên bà T1 hông phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp d ng hoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố t ng d n sự. Chấp nhận một phần háng cáo của bà Trần Thị T1; Sửa Bản án d n sự sơ thẩm số 112/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của T a án nh n d n huyện Đức Linh, t nh Bình Thuận (nay là T a án nh n d n hu vực 17 – L m Đồng).
Căn cứ vào: Các hoản 2, 9 Điều 26, điểm a hoản 1 Điều 35, điểm a, c hoản 1 Điều 39, các Điều 147, 157, 158, 165, 166, hoản 2 Điều 227, các hoản 1, 2 Điều 228, Điều 244, Điều 271, hoản 1 Điều 273 Bộ luật tố t ng d n sự năm 2015;
- Các Điều 163, 164, 166, 168, 357, 468 Bộ luật d n sự năm 2015;
- Khoản 47 Điều 3, Điều 26, Điều 236 Luật đất đai năm 2024.
- Điểm b hoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán T a án nh n d n tối cao hướng dẫn áp d ng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội hóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí T a án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn.
1.1. Buộc bà Trần Thị T1 phải trả lại cho ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị T thửa đất số 57, tờ bản đồ 02, diện tích 1.640m2, toạ lạc tại thôn N, xã Đ, huyện Đ, t nh Bình Thuận (nay là xã T, t nh L m Đồng), theo mảnh trích đo địa chính số 142-2024 là 1.754,3m2, giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số B719627, vào sổ cấp giấy chứng nhận số 08/QĐ-UBĐL, ngày 26/01/1996. (Kèm theo sơ đồ).
1.2. Giao cho ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị T được quyền s hữu 20 c y Điều trên thửa đất số 57, tờ bản đồ 02, giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số B719627.
1.3. Ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm liên đới thanh toán lại giá trị 20 c y Điều cho bà Trần Thị T1 với số tiền là 4000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
1.4. Ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị T1 số tiền 450.000.000 đồng (bốn trăm năm mươi triệu đồng) công sức cải tạo, giữ gìn thửa đất số 57, tờ bản đồ 02, giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số B719627.
2. Không chấp nhận yêu cầu h i iện phản tố của bị đơn bà Trần Thị T1 về việc yêu cầu Toà án công nhận thửa đất số 113, tờ bản đồ số 39, diện tích 1.778,9m2 toạ lạc tại tổ G, thôn N, xã Đ, huyện Đ, t nh Bình Thuận (nay là xã T, t nh L m Đồng) thuộc quyền quản l sử d ng hợp pháp của bà Trần Thị T1.
3. Về chi phí tố t ng:
Bà Trần Thị T1 phải hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị T số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản mà ông Q, bà T đã chi.
4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến hi thi hành án xong, bên phải thi hành án c n phải chịu hoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật D n sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
5. Về án phí:
Ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị T liên đới phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí d n sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước. Nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.0000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tại Chi c c Thi hành án d n sự huyện Đức Linh theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí T a án số 0004235 ngày 29/02/2024.
Bà Trần Thị T1 phải chịu 600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước. Nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.0000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tại Chi c c Thi hành án d n sự huyện Đức Linh theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí T a án số 0004347 ngày 27/3/2024. Bà T1 c n phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án D n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án D n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án d n sự.
Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án 30/10/2025.
| Nơi nhận: - VKSND t nh LĐ; - TAND KV 17; - Phòng THADS KV 17; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thái Bình |