- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phạm Hoàng Bảo S và bị cáo Nguyễn Trần Tăng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 315/2024/HSST Ngày 25-12-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:
Ông Lương Quốc Việt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
2. Bà Châu Thị Lệ
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Lê Quỳnh Thư – Thư ký Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại Phòng xử án Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh – Số 416/2 đường Dương Quảng Hàm, Phường 5, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 330/2024/HSST ngày 25/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 401/2024/QĐXXST-HS ngày 09/12/2024, đối với các bị cáo:
1. Phạm Hoàng Bảo S; Sinh năm 1988, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số 27/21 đường T, phường T, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: số 1396/33/14 đường L, Phường M,quận G; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn B – sinh năm: 1954 và bà Trần Thị T – sinh năm: 1954; Vợ Nguyễn Trần Tăng H - Sinh năm: 1991. Có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không;
Bị bắt tạm giam ngày 30/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Chí Hòa, Công an Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt tại phiên tòa).
2. Nguyễn Trần Tăng H; Sinh năm 1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: số 180/90C đường X, Phường H, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: số 1396/33/14 đường L, Phường M,quận G; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Minh H – sinh năm: 1964 và bà Phạm Thị Trúc G – sinh năm: 1971; Chồng Phạm Hoàng Bảo S - Sinh năm: 1988. Có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không
Bị bắt tạm giam ngày 30/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Chí Hòa, Công an Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Hoàng Bảo S và Nguyễn Trần Tăng H đều là đối tượng nghiện ma tuý. Khoảng 05 giờ 45 phút ngày 30/5/2024, S điều khiển xe mô tô biển số 67M8 – 37xx chở H đến Trung tâm Y tế dự phòng quận B để H uống thuốc Methadone. Sau đó, S đi đến trước nhà số 125/93 đường Đ, Phường B, quận B gặp một người đàn ông (Chưa rõ lai lịch) mua 200.000 đồng ma túy tổng hợp rồi điều khiển xe mô tô quay lại đón H. Riêng H, trước khi vào uống thuốc Methadone cũng đã mua 100.000 đồng Heroine của một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) đứng trước Trung tâm Y tế dự phòng quận B (H không cho S biết là H mua ma tuý). Khi đến đón H, S đưa gói ma tuý vừa mua để H cất giữ. Đến khoảng 10 giờ 55 phút cùng ngày, khi S chở H đi về đến trước số 1390 đường L, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an quận Gò Vấp kiểm tra, phát hiện trong túi áo khoác bên phải của H có 01 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất bột màu trắng và trong bóp da của H có 01 gói nylon bên trong có chứa tinh thể không màu H và S khai đều là ma tuý nên đã bắt giữ vật và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL:2-3).
Qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Hoàng Bảo S tại địa chỉ số 1396/33/14 đường L, Phường M, quận G thu giữ 01 chai nhựa và ống hút nhựa của S dùng để sử dụng ma túy.
Vật chứng vụ án:
- 01 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong chứa bột màu trắng được niêm phong thành 01 gói, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Trần Tăng H và hình dấu Công an Phường M, quận Gò Vấp (m1)
- 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu được niêm phong thành 01 gói, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Trần Tăng H và Phạm Hoàng Bảo S và hình dấu Công an Phường M, quận Gò Vấp (m2)
- 01 điện thoại di động gắn sim số 0796818xxx (thu giữ của H, không liên quan đến vụ án).
- 01 chiếc xe mô tô biển số 67M8 – 37xx, số máy : 8MRKN000xxx, số khung: M8XNKF00xxx .
- 01 chai nhựa và ống hút nhựa.
Căn cứ Kết luận giám định số: 6628/KL-KTHS ngày 07/06/2024, của Phòng kỷ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Gói 1: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.I) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng: 0,0586 gam, loại Heroine.
- Gói 2: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.I) là ma túy ở thể rắn có khối lượng: 0,2554 gam, loại Methamphetamine (BL:76)
Qua xác minh chiếc xe mô tô biển số 67M8 – 37xx, số máy: 8MRKN000xxx, số khung: M8XNKF00xxx không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Nguyễn Trần Tăng H khai nhận đã mua xe trên của người thanh niên (không rõ lai lịch), nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 30/05/2024, Phạm Hoàng Bảo S điều khiển xe trên chở H đi uống thuốc Methadone và mua ma tuý thì bị bắt giữ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp tiến hành trưng cầu giám định số khung, số máy chiếc xe trên. Tại Kết luận giám định số: 4547/KL-KTHS ngày 27/08/2024, của Phòng kỷ thuật hình Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: số khung, số máy bị mài, đục số, không xác định được số nguyên thủy(BL:79-82).
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu xe nhưng chưa có ai đến liên hệ nhận xe (BL:117).
Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Hoàng Bảo S và bị cáo Nguyễn Trần Tăng H đã thừa nhận hành vi phạm tội như nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 412/CT–VKS ngày 22/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Hoàng Bảo S về tội “Tàng trữ trái phét chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Trần Tăng H về tội tội “Tàng trữ trái phét chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Hoàng Bảo S và bị cáo Nguyễn Trần Tăng H. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Phạm Hoàng Bảo S từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Tăng H từ: 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Đề nghị xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy
- 01 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong chứa bột màu trắng được niêm phong thành 01 gói, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Trần Tăng H và hình dấu Công an Phường M, quận Gò Vấp (m1)
- 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu được niêm phong thành 01 gói, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Trần Tăng H và Phạm Hoàng Bảo S và hình dấu Công an Phường M, quận Gò Vấp (m2)
Đề nghị giao cơ quan Thi hành án đăng báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô biển số 67M8 – 37xx, số máy: 8MRKN000xxx, số khung: M8XNKF00xxx. Hết thời gian 06 tháng kể từ ngày đăng báo, nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung quỹ.
Đề nghị trả lại bị cáo H 01 điện thoại di động gắn sim số 0796818xxx.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Lời khai nhận tội của các bị cáo Phạm Hoàng Bảo S, Nguyễn Trần Tăng H tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo S và bị cáo H điều là những người nghiện ma túy. Nhằm thỏa mãn cho cơn nghiện của mình, bị cáo S đã mua 0,2554 gam loại Methamphetamine và đưa cho bị cáo H cất giữ. Bị cáo H biết rõ đó là ma túy nhưng đã đồng ý cất giữ cho bị cáo S. Ngoài số lượng ma Túy trên, bị cáo H còn tàng trữ 0,0586 gam heroin để sử dụng cho riêng mình. Xét đây là số lượng ma túy của các bị cáo S và bị cáo H tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng. Nên việc truy tố bị cáo Phạm Hoàng Bảo S về hành vi tàng trữ trái pháp chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Trần Tăng H về hành vi tàng trữ trái pháp chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội như Viện kiểm sát đã quy kết.
. Ma túy là một loại biệt dược gây nghiện được Nhà nước độc quyền quản lý và sử dụng. Tuy nhiên nhằm để thoả mãn cơn nghiện, các bị cáo đã tàng trữ lượng ma túy nói trên nhằm mục đích sử dụng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Ma túy còn là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Các bị cáo biết rõ tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật rất nghiêm minh nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên đã bất chấp, cố ý phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình. Nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nhằm thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp luật Xã Hội Chủ Nghĩa.
. Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5, Điều 249 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy hoàn cảnh của các bị cáo có nhiều khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
. Đối với các đối tượng không rõ lai lịch bán ma túy cho S và H, Cơ quan điều tra tiếp tục áp dụng các biện pháp điều tra, xác minh, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy ;
- 01 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong chứa bột màu trắng được niêm phong thành 01 gói, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Trần Tăng H và hình dấu Công an Phường M, quận Gò Vấp (m1)
- 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu được niêm phong thành 01 gói, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Trần Tăng H và Phạm Hoàng Bảo S và hình dấu Công an Phường M, quận Gò Vấp (m2)
- Giao cơ quan Thi hành án quận Gò Vấp đăng báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô biển số 67M8 – 37xx, số máy: 8MRKN000xxx, số khung: M8XNKF00xxx. Hết thời gian 06 tháng kể từ ngày đăng báo, nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung quỹ.
Trả lại bị cáo H 01 điện thoại di động gắn sim số 0796818xxx do không liên quan đến vụ án.
. Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
. Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Phạm Hoàng Bảo S và bị cáo Nguyễn Trần Tăng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng Bảo S 01 (một) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2024.
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Tăng H 01 (một) năm, 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 30/05/2024.
- Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Tịch thu tiêu hủy
- 01 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu bên trong chứa bột màu trắng được niêm phong thành 01 gói, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Trần Tăng H và hình dấu Công an Phường M, quận Gò Vấp (m1)
- 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu được niêm phong thành 01 gói, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Trần Tăng H và Phạm Hoàng Bảo S và hình dấu Công an Phường M, quận Gò Vấp (m2).
- Giao cơ quan Thi hành án quận Gò Vấp đăng báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô biển số 67M8 – 37xx, số máy: 8MRKN000xxx, số khung: M8XNKF00xxx. Hết thời gian 06 tháng kể từ ngày đăng báo, nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung quỹ.
Trả lại bị cáo H 01 điện thoại di động gắn sim số 0796818xxx
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số nhập số 145/PNK ngày 01/7/2024).
Buộc mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án..
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp; - Công an quận Gò Vấp; - Trại giam nơi giam bị cáo; - Cơ quan Thi hành án dân sự quận Gò Vấp; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VP, HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lƣơng Quốc Việt |