vanban.org

Bản án 315/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị S. Bà Lê Thị S được ly hôn với ông Lê Công Q.

Về con chung: Bà Lê Thị S khai có 01 con chung là cháu Lê Công T, sinh ngày 20/7/1999. Do cháu T đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông Lê Công Q không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về con chung trong vụ án này. Về tài sản chung, về nợ chung: Bà Lê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị S ly hôn Lê Công Q"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị S. Bà Lê Thị S được ly hôn với ông Lê Công Q.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 315/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22 – 08 - 2024
V/v :“Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hồng Ngọc

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Phi Hổ

2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên , tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 906/2024/TLST- HNGĐ, ngày 15 tháng 04 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 07 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 356/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07/08/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị S, sinh năm 1976.

Địa chỉ: B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

- Bị đơn: Ông Lê Công Q, sinh năm 1977.

Địa chỉ: B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

( Bà S, ông Q vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tiến hành tố tụng bà Lê Thị S trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Lê Công Q tự tìm hiểu nhau và tự nguyện kết hôn với nhau; có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 21/4/2004. Thời gian đâu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Nguyên nhân, mâu thuẫn phát sinh chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Ông Q thường xuyên có những lời nói xúc phạm, chửi bới tôi. Thậm chí đã có thời gian ông Q đánh đập tôi không thương tiếc nhưng tôi đều cổ gắng chịu đựng để gia đình được êm ấm. Tuy nhiên, tôi càng nhịn thì ông Q càng xúc phạm, đánh đập và chửi bới tôi thậm tệ. Tôi cũng đã nhiều lần khuyên nhủ ông Q và cố gắng hòa giải đoàn tụ nhưng vẫn không thể đoàn tụ để xây dựng gia đình hạnh phúc. Nay tôi xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Q nên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Lê Công Q.

- Về con chung Có 01 con chung là cháu Lê Công T, sinh ngày 20/7/1999. Do cháu T đã trưởng thành và có khả năng lao động nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về Nợ chung: Bà Lê Thị S cam kết vợ chồng tôi không có nợ chung.

- Về án phí: Bà Lê Thị S xin tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông Lê Công Q nhưng ông Lê Công Q không gửi cho Tòa án ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà Lê Thị S và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ. Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo, giấy triệu tập mời ông Lê Công Q đến Tòa án để lấy lời khai đối chất; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Lê Công Q không đến Tòa án để làm việc.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về tố tụng, bảo đảm sự vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ án. Về nội dung tranh chấp: Cuộc sống hôn nhân của bà Lê Thị S và ông Lê Công Q không có hạnh phúc, không ai còn quan tâm đến ai. Do mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị S. Bà Lê Thị S khai có 01 con chung là cháu Lê Công T, sinh ngày 20/7/1999. Do cháu T đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, hai vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Lê Công Q cũng không có ý kiến về con chung, tài sản chung và nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án không xem xét giải quyết con chung, tài sản chung và nợ chung của bà Lê Thị S và ông Lê Công Q trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị S và ông Lê Công Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Bà Lê Thị S và ông Lê Công Q hiện đang sinh sống tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên đơn xin ly hôn của bà Lê Thị S thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Lê Công Q: “ Thông báo thụ lý vụ án”,“Giấy triệu tập”, “Thông báo thu thập được chứng cứ”,“Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải” nhưng ông Lê Công Q vẫn không đến Tòa án làm việc. Do ông Lê Công Q đã được thông báo nhiều lần nhưng vẫn không đến tham gia phiên họp và hòa giải nên Tòa án đã lập biên bản ghi nhận việc không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải được. Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa do vắng mặt ông Lê Công Q cũng đã được tiến hành tống đạt theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy, ông Lê Công Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Lê Công Q vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Công Q theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bà Lê Thị S là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Về nội dung tranh chấp: Bà Lê Thị S yêu cầu ly hôn với ông Lê Công Q. Về con chung bà Lê Thị S khai có 01 con chung là cháu Lê Công T, sinh ngày 20/7/1999. Do cháu T đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung bà Lê Thị S khai không có và bà Lê Thị S cam kết hai vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Các nội dung này đã được Tòa án ghi rõ trong các Thông báo mà ông Lê Công Q đã được tống đạt hợp lệ nhưng ông Lê Công Q không có ý kiến phản đối, không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.

Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở lời khai, lời trình bày của bà Lê Thị S và kết quả xác minh tại địa phương thì thấy cuộc sống chung của ông Lê Công Q và bà Lê Thị S không có sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trên thực tế, bà Lê Thị S và ông Lê Công Q không ai còn quan tâm đến ai. Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải cho ông Lê Công Q để tiến hành hòa giải nhưng ông Lê Công Q không đến, cho thấy ông Lê Công Q không có thiện chí đoàn tụ với bà Lê Thị S. Do vậy yêu cầu của bà Lê Thị S về việc xin ly hôn với ông Lê Công Q là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Bà Lê Thị S khai có 01 con chung là cháu Lê Công T, sinh ngày 20/7/1999. Do cháu T đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông Lê Công Q không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về con chung trong vụ án này.

Về tài sản chung: Bà Lê Thị S khai không có và ông Lê Công Q không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về tài sản chung của bà Lê Thị S và ông Lê Công Q trong vụ án này.

Về nợ chung: Bà Lê Thị S khai không có nợ chung và ông Lê Công Q không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này .

Về án phí: Bà Lê Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 267, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị S. Bà Lê Thị S được ly hôn với ông Lê Công Q.

2. Về con chung: Bà Lê Thị S khai có 01 con chung là cháu Lê Công T, sinh ngày 20/7/1999. Do cháu T đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông Lê Công Q không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về con chung trong vụ án này.

3. Về tài sản chung, về nợ chung: Bà Lê Thị S khai không có và ông Lê Công Q không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về tài sản chung và nợ chung của bà Lê Thị S1 ông Lê Công Q trong vụ án này.

4. Về án phí: Bà Lê Thị S phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Lê Thị S đã nộp theo biên lai thu số: 0003179 ngày 04/04/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà Lê Thị S đã nộp đủ án phí.

Bà Lê Thị S và ông Lê Công Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ