vanban.org

Bản án 315/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 28/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy N, Nguyễn Khắc N2 phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Nguyễn Duy N 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 05/8/2018. Nguyễn Khắc N2 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 05/8/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy N, Nguyễn Khắc N2 phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ THANH HOÁ
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 315/2018/HS-ST
Ngày: 28-11- 2018
Tßa ¸n ND Thµnh Phè Thanh Ho¸ - TØnh Thanh ho¸
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tiến
Bà Lê Thị Mơi
- §¹i diÖn VKSND Thµnh phè Thanh ho¸ tham gia phiªn toµ:
Ông Nguyễn Duy Thi - KiÓm s¸t viªn
ngµy 09 th¸ng 11 n¨m 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
325/2018/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 11 năm 2018 ®èi víi các bÞ c¸o:
Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: kinh;
giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Duy L và
14/8/2018, “có mặt”.
phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân
tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn
Khắc H2 và bà Nguyễn Thị V; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: ngày 05/8/2018;
tạm giam: ngày 14/8/2018, “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23h 45 ngày 04/8/2018 tổ công tác Công an thành phố T đang làm nhiệm vụ tại đường Đại Lộ L phát hiện bắt quả tang Nguyễn Duy N và Nguyễn Khắc N2 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra N tự giác giao nộp 01 gói nilông màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng. N khai đó là ma túy đá mua về để sử dụng.

Tại cơ quan điều tra N và N2 khai nhận: Khoảng 22h N đang ở nhà thì T trú tại xã Q, thành phố T gọi điện cho N bảo xuống nhà T lấy tiền để mua ma túy sử dụng chung. Sau đó N gọi điện cho N2 chở N đi lấy tiền, N2 điều khiển chiếc xe mô tô 36B4-722.28 chở N đến khu vực cống sông xã Q, thành phố T thì gặp T, T đưa cho N 350.000đ. N bảo N2 chở đến cầu Đ, thành phố T để mua ma túy. N2 đồng ý và chở N đi đến ngõ nhỏ gần cầu Đ thì dừng xe đứng đợi. N đi bộ vào trong ngõ gặp và mua 01 gói ma túy đá với giá 350.000đ của một người thanh niên tên G (không rõ địa chỉ). Mua xong, N bỏ gói ma túy vào trong túi quần rồi lên xe N2 chở về. Trên đường đi N nói với N2 đã mua được ma túy, khi cả hai đi đến khu vực đối diện siêu thị điện máy H thì bị Công an phát hiện bắt giữ. N khai nhận gói ma túy trên N mua về để sử dụng chung với T. N2 khai nhận mặc dù biết N nhờ chở đi mua ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do nể nang nên đồng ý chở N đi mua ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 1658/MT- PC54 ngày 08/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh Thanh hoá kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,349g (không phẩy ba bốn chín gam) loại Methamphetamine.

Đối với người tên T (T Na) đã đưa tiền cho N mua ma túy. Quá trình điều tra xác định là Nguyễn Anh T, SN 1984, trú tại xã Q, thành phố T. Cơ quan điều tra đã triệu tập nhiều lần nhưng T hiện không có mặt ở địa phương. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ.

Đối với người Nam giới tên G bán ma túy cho N, do N không biết địa chỉ của này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh xử lý.

Đối với chiếc mô tô BKS 36B4-722.28 mà N2 sử dụng để chở N đi mua ma túy. Qua xác minh chiếc xe này tuy đứng tên N2 nhưng là tài sản của ông Nguyễn Khắc H2 (bố N2) nhờ N2 đứng tên trong đăng ký. Việc N2 sử dụng xe chở N đi mua ma túy, ông H2 không biết nên cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Hùng.

Tại bản cáo trạng số 305/CT-VKS ngày 08 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố các bị cáo Nguyễn Duy N và Nguyễn Khắc N2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá giữ N2 quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo N mức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù; bị cáo N2 mức hình phạt từ 12 đến 15 tháng tù.

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án thấy đủ cơ sở chứng minh: Vào khoảng 23h45 ngày 04/8/2018, tại khu vực Đại Lộ L thuộc phường Đ, thành phố T. Nguyễn Khắc N2 điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Duy N đã tàng trữ trái phép 01 gói ma túy có trọng lượng 0,349 gam loại Methamphetamine.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Nguyễn Duy N và Nguyễn Khắc N2 có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đúng pháp luật.

Tính chất vụ án: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những N2 nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Mặc dù bị cáo N2 biết việc chở bị cáo N đi mua ma túy là vi phạm pháp luật; bị cáo N biết rõ tác hại của ma túy nhưng do xem thường pháp luật nên các bị cáo đã phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an chung cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục và phòng ngừa chung.

Trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Trong vụ án này các bị cáo không bàn bạc và phân công vai trò cụ thể nên là đồng phạm giản đơn. Nhưng bị cáo N có vai trò chính vì là người trực tiếp đi lấy tiền và mua ma túy, bị cáo N2 là đồng phạm giúp sức cùng thực hiện hành vi là chở bị cáo N đi mua ma túy. Do bị cáo N có vai trò cao hơn nên mức hình phạt cao hơn bị cáo N2 là phù hợp.

Với tính chất nghiêm trọng của vụ án thì việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên khi áp dụng hình phạt cần căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Do các bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng, không có tính chất vụ lợi nên không cần phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 01 gói ma túy thu của bị cáo được niêm phong bằng phong bì thư là vật nhà nước cấm lưu hành, sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy. Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Điều 17, Điều 58 BLHS năm 2015; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy N, Nguyễn Khắc N2 phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Nguyễn Duy N 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 05/8/2018.

Nguyễn Khắc N2 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 05/8/2018.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì thư của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa có chữ ký chữ viết của Nguyễn Trần Đăng, Trần Thị Thúy Hằng, Phạm Văn Hùng, Trịnh Thị Thu Hương.

(Số ma túy trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 39/THA ngày 14/11/2018).

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6,7 vµ ®iÒu 9 LuËt Thi hµnh ¸n d©n sù. Thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM.

Cỡ chữ