vanban.org

Bản án 314/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 12/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Điều luật áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 168; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án Hình phạt: Xử phạt … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 314/2023/HSST
Ngày 12/12/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Quang Hiên;

Ông Ngô Minh Tuấn.

- Thƣ ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Cẩm Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số 295/2023/TLST-HS, ngày 02/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 357/2023/HS-QĐ ngày 28/11/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn A; Sinh năm 1994 tại Điện Biên; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Bản C, xã L, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Lò Văn H, sinh năm 1972; Nghề nghiệp: Làm nông nghiệp; Họ và tên mẹ: Lò Thị P, sinh năm 1974; Nghề nghiệp: Làm nông nghiệp; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/12/2015 bị Công an huyện Điện Biên Đông xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Danh chỉ bản số 420, do Công an quận Bắc Từ Liêm lập ngày 09/8/2023; Bị bắt quả tang ngày 03/8/2023, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2023; Hiện đang bị giam giữ tại Trại Tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Vinh; Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Bị cáo Lò Văn A là người nghiện ma túy loại Heroin.

Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 03/8/2023, bị cáo đến khu vực đường tàu thuộc phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tìm và mua ma túy loại Heroine của một người đàn ông (Không rõ nhân thân) 01 gói giấy bên trong chứa ma túy loại Heroin với giá 100.000 đồng, cất gói ma túy vào túi quần bên phải đang mặc rồi tìm nơi sử dụng. Khi bị cáo đi bộ đến khu vực đầu ngõ 1 Đức Diễn, phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm thì bị Tổ công tác Công an phường Phúc Diễn kiểm tra hành chính, bắt quả tang cùng vật chứng. Vật chứng thu giữ của bị cáo: 01 gói giấy màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng.

Tại Kết luận giám định số 5344/KL – KTHS ngày 11/8/2023, Phòng Kĩ thuật Công an thành phố Hà Nội đã kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,187gam.

Xét nghiệm nước tiểu đối với bị cáo cho kết quả dương tính, có sử dụng ma túy.

Tại Cáo trạng số 290/CT-VKS, ngày 31/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố bị cáo Lò Văn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn A mức án từ 16 - 20 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo; Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ.

- Người bào chữa cho bị cáo: Không có ý kiến gì đối với tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo; Bị cáo lần đầu bị đưa ra xét xử, là người dân tộc thiểu số, đến từ vùng kinh tế đặc biệt khó khăn của đất nước, hiểu biết pháp luật rất hạn chế, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất, dưới mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, điều tra viên, Cơ quan kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đúng các quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Hồi 14 giờ 45 phút ngày 03/8/2023, tại khu vực ngõ 1 Đức Diễn, phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, bị cáo Lò Văn A đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,187gam ma túy loại Heroin thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt áp dụng đối với bị cáo được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo biết loại ma túy bị cáo tàng trữ bị cấm tàng trữ, mua bán, sử dụng… trái phép, là chất gây nghiện, làm tổn hại sức khỏe con người đặc biệt là sức khỏe tinh thần, thể chất của người sử dụng, là mầm mống gây ra nhiều loại tội phạm và các bệnh xã hội khác.

. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

3.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối cải, lần đầu bị đưa ra xét xử, bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

3.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

3.3. Về nhân thân: Ngày 28/12/2015, bị cáo bị Công an huyện Điện Biên Đông xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tiền sự này của bị cáo đã được xóa, bị cáo được coi là chưa bị xử lý hành chính nhưng thể hiện, bị cáo đã sử dụng ma túy từ lâu.

. Về hình phạt:

4.1. Hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

4.2. Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

. Về các vấn đề khác

5.1 Về vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo là chất gây nghiện, bị cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

5.2. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và mức án phí phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Điều luật áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 168; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn A 15 (Mƣời lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2023.

3. Các vấn đề khác

3.1. Về Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì chứa ma túy đã giám định được niêm phong có chữ kí giáp lai của bị cáo, cán bộ điều tra và giám định viên; (Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 41/24 ngày 08/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm).

3.2. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3.3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ