- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Ngọc T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? C n cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 314/2019/HS-ST Ngày: 18/12/2019. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh;
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thanh Hường
Ông Nguyễn Việt Chiến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hưng, Cán bộ Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương , Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 n m 2019, t i Tr s Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số 326/2019/TLST-HS ngày 04/12/2019 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 322/2019/QĐXXST-HS ngày 04/12/2019 đối với bị cáo:
Vũ Ngọc T, sinh n m 1995; Đ ng ký nhân khẩu thường trú: Xóm 6, xã T, huyện T, tỉnh T; Chỗ : số 300 đường L, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ v n hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Ngọc Q, sinh n m 1962 và bà Hoàng Thị N, sinh n m 1972; Vợ, con : Chưa có.
Tiền án tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 23/9/ 2019. Hiện bị cáo đang bị t m giam t i Tr i giam số 1- Công an thành phố Hà Nội. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị Liên T, sinh n m 1991. Địa chỉ: Xóm 6, xã T, huyện T, tỉnh T. (Chị T có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 23/9/2019, t i ngách 1/1 T, phường M,quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, tổ công tác Đ i đội 2, Tiều đoàn CSCĐ số 1, Trung đoàn Cảnh sát Cơ động Công an thành phố Hà Nội phát hiện Vũ Ngọc T điều khiển xe máy Honda SH 150i màu đ đen BKS 29L1 – 325.69 ch Mai Thị Thu H, sinh n m 1999, HKTT và chỗ : Số 28 ngõ 378 đường Mỹ Đình, phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra đã thu giữ trong túi quần bò bên phải phía trước của T: 01 túi nilong bên trong túi có chứa 01 mảnh viên nén màu vàng nh t, và bột màu vàng nh t nghi là ma túy. Tổ công tác lập biên bản bắt quả tang, dẫn giải T cùng tang vật về tr s để điều tra làm rõ.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 túi nilon có chứa 01 mảnh viên nén màu vàng nh t, và bột màu vàng nghi là ma túy;
- 01 xe máy SH 150i, màu đ đen, BKS: 29L1 – 325.69.
Quá trình điều tra xác định nội dung như sau: Bản thân T có sử d ng ma túy thuốc lắc nên khoảng 22 giờ ngày 22/9/2019, T đón H đi sinh nhật 01 người b n xã hội (chưa rõ lai lịch) là b n của K (chưa rõ lai lịch) quán Karaoke trên đường P, quận Đ, thành phố Hà Nội (T không nhớ rõ địa chỉ). Khi vào quán hát T được K đưa cho 02 viên ma túy thuốc lắc màu vàng nh t đựng trong túi nilon màu trắng. T lấy lon cocacola đập nh 2 viên thuốc lắc ra và cho một phần bột thuốc lắc vào cốc thủy tinh pha sẵn Cocacola để T và H cùng sử d ng. Số ma túy còn l i T cất trong túi quần bò phía trước bên phải để sử d ng sau.
Khoảng 01 giờ, ngày 23/9/2019, T ch H về nhà, khi đi đến ngách 1/1 T, phường M, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội thì bị cảnh sát cơ động Công an thành phố Hà Nội yêu cầu dừng xe bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 6080B/KLGĐ-PC09 ngày 01 tháng 10 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội kết luận: 01 mảnh viên nén màu vàng nh t và bột màu vàng nh t bên trong 01 túi nilon đều là ma túy lo i MDMA, tổng khối lượng 0,454 gam.
T i Cơ quan điều tra, Vũ Ngọc T khai nhận hành vi ph m tội mình.
Đối với Mai Thị Thu H, tuy có sử d ng ma túy cùng với T nhưng không biết việc T tàng trữ số ma túy còn l i trong người nên cơ quan điều tra không xử lý về hành vi đồng ph m với T.
Về đối tượng K là người cho T ma túy, quá trình điều tra không rõ nhân thân lai lịch nên cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với xe máy Honda SH 150i màu đ đen BKS: 29L1 – 325.69 qua xác minh là tài sản hợp pháp của chị Vũ Thị Liên T, sinh n m 1991, HKTT: xóm 6, xã T, huyện T, tỉnh T là chị gái của T. Chị T khai cho T mượn xe máy trên để đi làm, không biết T sử d ng xe để vi ph m pháp luật. Ngày 23/10/2019, Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả xe máy trên cho Chị T, Chị T đã nhận l i tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
T i bản cáo tr ng số 343 /CT-VKS ngày 29/ 11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm bị cáo Vũ Ngọc T bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
T i phiên toà, bị cáo Vũ Ngọc T khai nhận hành vi của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo.
Đ i diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo tr ng truy tố và kết luận bị cáo Vũ Ngọc T đã ph m tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội, xem xét tình tiết giảm nhẹ, đ i diện Viện kiểm sát đề nghị xử ph t bị cáo Vũ Ngọc T mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù .
Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy, có chữ ký của cá thành phần tham gia niêm phong, được phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội hoàn trả sau khi giám định.
Về dân sự: Chị Vũ Thị Liên T đã nhận l i xe máy Honda SH 150i màu đ đen BKS: 29L1-325.69 và không có yêu cầu gì nên Viện kiểm sát không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, c n cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm và của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. T i quá trình điều tra, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan không có ý kiến khiếu n i về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố t ng, người T hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của cơ quan T hành tố t ng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Lời khai nhận tội của bị cáo t i phiên tòa phù hợp lời khai t i cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ v án, có đủ cơ s kết luận: Khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 23/9/2019, t i ngách 1/1 T, phường M , phường Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội bị cáo Vũ Ngọc T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,454 gam ma túy MDMA m c đích để sử d ng thì bị tổ công tác Đ i đội 2 – Tiểu đoàn CSCĐ số 1 – Trung đoàn Cảnh sát cơ động (C2-D1-PK02E) Công an thành phố Hà Nội bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng.
Hành vi của bị cáo Vũ Ngọc T đã ph m vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình ph t được quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Như cáo tr ng của Viện kiểm sát là hoàn toàn có c n cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi ph m tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm ph m đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, ảnh hư ng đến sức kh e cộng đồng. Bị cáo nhận thức rõ việc sử d ng ma túy là vi ph m pháp luật, nhưng vẫn cố tình cất giấu ma túy để sử d ng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, áp d ng mức hình ph t tù giam cách ly bị cáo kh i xã hội một thời gian mới có tác d ng giáo d c riêng bị cáo cũng như r n đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét bị cáo khai báo thành khẩn, thái độ n n n hối cải để giảm nhẹ một phần hình ph t cho bị cáo.
Về hình ph t bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn ph t tiền cho bị cáo.
Về vật chứng v án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy, có chữ ký của cá thành phần tham gia niêm phong, được phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội hoàn trả sau khi giám định.
Về dân sự: Chị Vũ Thị Liên T đã nhận l i xe máy Honda SH 150i màu đ đen BKS: 29L1-325.69 và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật .
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
C n cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố t ng hình sự 2015;
- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử ph t bị cáo Vũ Ngọc T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời h n từ tính từ ngày 23/9/2019.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong chất ma túy có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong, được phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội hoàn trả sau khi giám định. Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 57 ngày 02/12/2019 t i Chi c c thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm.
Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo đối với phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan; - VKSND Q.Nam Từ Liêm; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an Q.Nam Từ Liêm; - TT lý lịch-S Tư pháp TP.Hà Nội; - Chi c c THADS Q.NamTừ Liêm; - Lưu HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Thị Kim Thanh |