- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 314 /2017/HSST Ngày 28/8/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Đức Long
2. Ông Nguyễn Đình Đường
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Huyền, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 307 /2017/HSST ngày 07 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Trần Thanh D, tên gọi khác: không; sinh ngày 22/01/1986; - Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ 1, phường T, thành phố T, tỉnh T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Trần Minh S (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1961; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là Lê Thị Lan O, sinh năm 1990; Có 02 con lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Tại Bản án số 30/HSST ngày 17/02/2009 Tòa án nhân thành phố Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
+ Tại Quyết định số 13 ngày 03/3/2008 Công an phường T, thành phố Thái Nguyên xử phạt hành chính 350.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”.
+ Tại Quyết định số 1514 ngày 20/6/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc đưa Trần Thanh D vào Cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 24 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2017 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên toà)
Người làm chứng: Anh Lưu Xuân Bắc, sinh năm: 1976, trú tại: Tổ 24, phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
( Vắng mặt tại phiên tòa)
NHẬN THẤY
Bị cáo Trần Thanh D bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồi 6 giờ 40 phút ngày 29/4/2017, tổ công tác của Công an phường Q làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 12, phường Q, thành phố T phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, tổ công tác tiếp cận yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên khai có tên là Trần Thanh D. D tự giác lấy 01 gói nilon màu xanh, bên trong có chứa chất bột màu trắng từ túi quần phía sau bên phải D đang mặc ra giao nộp. D khai đó là Hêrôin của D mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định .
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên cân số chất bột màu trắng thu giữ của Trần Thanh D có trọng lượng (khối lượng) 0,234 gam.
Hồi 16 giờ ngày 29/4/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành khám xét chỗ ở của Trần Thanh D tại tổ 1, phường T, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, không phát hiện thu giữ gì.
Tại Kết luận giám định số 590/KL-PC54 ngày 04/5/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Trần Thanh D là chất ma túy, loại Hêrôin có trọng lượng (khối lượng) là 0,234gam.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Thanh D khai nhận: Khoảng 6 giờ ngày 29/4/2017, D một mình đi xe đạp điện từ nhà xuống khu vực phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, mục đích mua Hêrôin sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực ngã tư Q, thuộc phường Q, thành phố T thì D vào quán điện thoại Hải Linh gặp anh Đinh Công H (sinh năm 1985, trú tại tổ 17, phường Q, thành phố T) D hỏi và vay của anh H 100.000 đồng và để lại chiếc xe đạp điện làm tin. Sau đó, D thuê xe ôm của anh Lưu Xuân B (sinh năm 1976, trú tại tổ 24, phường Q, thành phố T) đi xuống khu vực phường Q. Khi đến gần khu vực hồ cá D bảo anh B đứng chờ rồi D một mình đi bộ vào một đường khuất cách chỗ anh B đứng khoảng 50m. Tại đây, D gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Hêrôin được gói bằng nilon màu xanh, với giá 100.000 đồng. Mua xong, D cất giấu gói Hêrôin vào túi quần phía sau bên phải D đang mặc rồi quay lại chỗ anh B và bảo anh B chở ra khu vực bờ sông Cầu để sử dụng. Khi anh B và D đi đến khu vực tổ 12, phường Q, thành phố T thì bị tổ công tác Công an phường Q, thành phố T kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như nêu trên.
Lời khai nhận của Trần Thanh D phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu A2 (mẫu vật hoàn lại sau giám định). Hiện được lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 326 /KSĐT-MT ngày 07/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trần Thanh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.
Phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Thanh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Điểm h, khoản 2, Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14 về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH 13; Khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt:
Bị cáo Trần Thanh D : Từ 30 đến 36 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo;
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41BLHS; Điều 76 BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A2.
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST vào ngân sách nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt được sớm trở về cùng gia đình.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người làm chứng, Hội đồng xét xử
XÉT THẤY
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thanh D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với vật chứng đã thu được, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Hồi 6 giờ 40 phút ngày 29/4/2017, tại khu vực tổ 12, phường Q, thành phố T , Trần Thanh D đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,234 gam Hêrôin, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Q, thành phố T phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần Thanh D về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Khoản 1 Điều 194 BLHS quy định như sau
“1. Người nào….tàng trữ trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước gây mất trật tự trị an xã hội.Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội, nhưng do bản thân nghiện ma túy nên đã dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, chưa có tiền án, tiền sự, là đối tượng nghiện ma túy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 Bộ Luật hình sự.
Căn cứ Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 của Quốc hội quy định: Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích;
Dẫn chiếu tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có mức hình phạt cao nhất là 5 năm tù, nhẹ hơn mức hình phạt cao nhất là 7 năm tù quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Vì vậy, áp dụng hình phạt theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy nên giảm cho bị cáo một mức hình phạt để bị cáo thấy rõ lượng khoan hồng của pháp luật, tích cực cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội.
Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra, xác minh tại địa phương bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không nghề nghiệp, bản thân sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 194 BLHS.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A2.
Về nguồn gốc số Hêrôin theo Trần Thanh D khai mua của 01 đối tượng (không rõ lai lịch, địa chỉ) tại khu vực tổ 12, phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên. Do không xác định được lai lịch, địa chỉ của đối tượng trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở để làm rõ, xử lý.
- Ngoài ra trong vụ án còn có anh Lưu Xuân Bắc là người hành nghề xe ôm được D thuê chở đi mua Hêrôin. Quá trình điều tra xác định khi chở D đi anh Bắc không biết D đi mua Hêrôin nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không xem xét, xử lý đối với anh Bắc.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Thanh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
1. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt Trần Thanh D 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ 29/4/2017.
- Áp dụng Điều 228 của Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định tạm giam bị cáo Trần Thanh D 45 (Bốn mươi năm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A2.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 348 ngày 31/7/2017 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
3.Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Thanh D phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm,có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Thái Nguyên; - Công an TP. Thái Nguyên; -TAND,VKSND tỉnh Thái Nguyên; - THADS TP. Thái Nguyên; - THA phạt tù; - Người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - UBND phường T, TP.Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.. - Lưu:Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Trần Thị Minh Hải |