vanban.org

Bản án 312/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Hà Minh Tr và Nguyễn Hữu Ngh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hà Minh Tr 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2020. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Ngh 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Minh Tr - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Hà Minh Tr và Nguyễn Hữu Ngh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 312/2020/HS-ST
Ngày 18-8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Ngọc Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Phú Tâm;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 299/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 318/2020/QĐXX-ST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Hà Minh Tr, sinh ngày 18/7/2000 tại tỉnh Kiên Giang; thường trú: Ấp T H A, xã T H B, huyện T H, tỉnh K Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; con ông Hà Hồng H, sinh năm 1974 và bà Lê Ngọc Đ, sinh năm 1981; bị cáo có 03 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh 2007; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/4/2020 cho đến nay; có mặt.

2. Nguyễn Hữu Ngh, sinh năm 1994 tại Hậu Giang; thường trú: Ấp M Th, xã Tân Ph H, huyện Ph H, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1969 và bà Lê Thị H, sinh năm 1969; bị cáo có 02 chị ruột, lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh 1985; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/4/2020 cho đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1997; thường trú: Ấp T H A, xã T H B, huyện T H, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng: Anh Phan Văn M, sinh năm 1989; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân Hà Minh Tr, Nguyễn Hữu Ngh là bạn bè quen biết và ở chung phòng trọ và là người sử trái phép chất ma túy. Khoảng 19 giờ ngày 24/4/2020, Hà Minh Tr, Nguyễn Hữu Ngh đi đến địa bàn Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh chơi, Tr điều khiển điều xe mô tô biển số 68T1-50732 chở Ngh ngồi sau. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày trên đường đi về do nhu cầu sử dụng ma túy nên Tr bàn với Ngh góp mỗi người 150.000 đồng để mua ma túy sử dụng chung. Tuy nhiên, do Ngh không có tiền nên Ngh kêu Trí bỏ tiền ra trước sau này khi nào có tiền Ngh sẽ trả lại. Sau khi bàn bạc thống nhất cả hai đi đến khu vực cầu X C thuộc địa bàn Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh gặp và mua ma túy của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 300.000 đồng được 01 túi nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng là ma túy và 01 nỏ thủy tinh được bỏ trong gói thuốc lá hiệu S G. Sau khi mua ma túy Tr cất giấu vào cốp xe phía trước rồi điều khiển xe mô tô chở Ngh đi về lại địa bàn thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Đến 20 giờ 50 phút cùng ngày khi đang đi trên tuyến đường DT743 khu vực trước cổng Công ty trách nhiệm hữu hạn kỹ thuật điện “K Nh” thuộc khu phố Đ Ch, phường T Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố D A phối hợp Công an phường T Đ H phát hiện Tr và Ngh có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong cốp xe phía trước có 01 gói thuốc lá hiệu Sài Gòn bên trong có 01 túi nilon miệng kéo dính chứa tính thể màu trắng, 01 nỏ thủy tinh. Lúc này, Hà Minh Tr và Nguyễn Hữu Ngh khai nhận túi nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng là ma túy do Ngh và Tr góp tiền mua để sử dụng, lực lượng Công an lập biên bản người có hành vi phạm tội quả tang, niêm phong tang vật đưa Tr và Ngh về trụ sở Công an phường làm việc, tại đây Tr và Ngh khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) túi nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) nỏ thủy tinh; 01 (một) xe mô tô hiệu biển số 68T1-50732, số máy: CGA1ID197850, số khung: MH8DL11AZKJ197833.

Căn cứ Kết luận giám định số: 245/MT-PC09 ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu chất màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,5688 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì Kết luận giám định số: 245/MT-PC09 ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho cho Tr và Ngh tại khu vực cầu X C thuộc địa bàn Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, do chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A đang xác minh làm rõ xử lý sau.

Cáo trạng số: 332/CT-VKS ngày 16 tháng 7 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Hà Minh Tr, Nguyễn Hữu Ngh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt các bị cáo Hà Minh Tr, Nguyễn Hữu Ngh, mỗi bị cáo từ 01 năm 05 tháng đến 01 năm 08 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Suzuki biển số 68T1-50732, là xe do bị cáo Hà Minh Tr mượn của anh Nguyễn Ngọc Th để làm phương tiện đi lại, việc Tr dùng xe mô tô đi mua ma túy thì anh Thoại không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A trả lại xe trên cho anh Th.

- Đối với 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,5415 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 (một) nỏ thủy tinh là vật cấm lưu thông, công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và xử lý vật chứng đồng thời các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng; biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 24/4/2020 tại khu vực trước cổng Công ty trách nhiệm hữu hạn kỹ thuật điện “K Nh” thuộc khu phố Đ Ch, phường T Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương phối hợp với Công an phường T Đ H tuần tra phát hiện Hà Minh Tr và Nguyễn Hữu Ngh có biểu hiện nghi vấn, qua kiểm tra phát hiện trong cốp xe mô tô do Tr điều khiển chở Ngh có 01 gói thuốc lá hiệu S G bên trong có 01 túi nilon miệng kéo dính chứa tính thể màu trắng, 01 nỏ thủy tinh. Lúc này, Hà Minh Tr và Nguyễn Hữu Ngh khai nhận túi nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng là ma túy do Ngh và Tr góp tiền mua để sử dụng nên lực lượng Công an lập biên bản người có hành vi phạm tội quả tang.

Căn cứ Kết luận giám định số: 245/MT-PC09 ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu chất màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,5688 gam, loại Methamphetamine.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Hà Minh Tr và Nguyễn Hữu Ngh tàng trữ ma túy có khối lượng 0,5688 gam, loại Methamphetamine, mục đích tàng trữ để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Cáo trạng số: 332/CT-VKS ngày 16 tháng 7 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo Hà Minh Tr và Nguyễn Hữu Ngh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; các bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Để có ma túy sử dụng mà các bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn nên không xác định là tội phạm có tổ chức, cụ thể: Các bị cáo là người gốp tiền để đi mua ma túy về sử dụng chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Các bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự và là người nghiện ma túy nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, ma túy là tiền đề của các loại tội phạm, hành vi phạm tội của các bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương đồng thời các bị cáo là người người nghiện ma túy. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Suzuki biển số 68T1-50732, là xe do bị cáo Hà Minh Tr mượn của anh Nguyễn Ngọc Th để làm phương tiện đi lại, việc Tr dùng xe mô tô đi mua ma túy thì anh Th không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A trả lại xe trên cho anh Thoại.

- Xét 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,5415 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 (một) nỏ thủy tinh là vật cấm lưu thông, công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho cho Tr và Ngh tại khu vực cầu X C thuộc địa bàn Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, do chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A đang xác minh làm rõ xử lý sau là đúng theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Hà Minh Tr và Nguyễn Hữu Ngh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Hà Minh Tr 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2020.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Ngh 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,5415 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 (một) nỏ thủy tinh.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/7/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D A với Chi cục thi hành án dân sự thành phố D A).

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Hà Minh Tr và Nguyễn Hữu Ngh, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ./.

Cỡ chữ