- Tranh chấp gì? án hình sự — "bi cao T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Như T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 312/2017/HSST Ngày: 25/12/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa:
Bà Hồ Thị Minh Hạnh
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Loan
2. Ông Phạm Văn Tiến
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:
Bà Phạm Thị Linh - Cán bộ TAND TP. Thanh Hóa
Đại diện VKSND TP. Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Đoàn Lệ Mỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 25/12/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 57/2017/HSST ngày 16/11/2017 đối với bị cáo:
Phạm Như T - Sinh năm 1975; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: làm ruộng; văn hóa: 9/12; con ông Phạm Ngọc B và bà Lê Thị K; vợ Nguyễn Thị L, có 02 con: lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2009 ; tiền án, tiền sự: không. Tạm giữ ngày 11/8/2017, tạm giam ngày 14/8/2017. Có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân TP. Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 08h30’ ngày 11/8/2017, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an TP. Thanh Hóa làm nhiệm vụ tại phố N, Phường N, TP. T phát hiện bắt quả tang Phạm Như T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, qua kiểm tra T tự giác giao nộp 04 gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng, T khai đó là Hêrôin mua về để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ.
Ngày 09 tháng 9 năm 2017 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định kết luận: 04 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng thu của Phạm Như T là ma túy có trọng lượng 0,629g, loại: Hêrôin.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Như T khai nhận: Khoảng 8h10’ ngày 11/8/2017 T đi ra khu vực phường N, thành phố T gặp và mua được của một người phụ nữ T không biết tên và địa chỉ 04 gói hêrôin này và tìm nơi sử dụng. Khi T đang đứng ở phố N, Phường N, TP. T thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm và ma túy yêu cầu kiểm tra, T đã tự giác lấy 04 gói ma túy đang cất giấu trong túi quần đang mặc giao cho công an.
Đối với người phụ nữ, T khai bán Hêrôin cho T, quá trình điều tra T không biết rõ tên, địa chỉ nên không có cơ sở xác minh xử lý.
Tại cáo trạng số 297/CT-VKS-MT ngày 14/11//2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Phạm Như T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS.
Tại phiên tòa, trong lời luận tội, đại diện VKSND TP. Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 BLHS 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; đề nghị xử phạt bị cáo T mức án từ 18 đến 24 tháng tù, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy là tang vật vụ án.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận, chỉ xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Như T khai nhận: Khoảng 08h30’ ngày 11/8/2017, tại phố N, Phường N, TP. T khi T đang có hành vi tàng trữ trong người 04 gói ma túy, có trọng lượng có trọng lượng 0,629g, loại: Hêrôin thì bị phát hiện, bắt quả tang, mục đích mua về để sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Như T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 BLHS như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy nhưng do bản thân là đối tượng nghiện ma túy nên đã có hành vi phạm tội. Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải được xử lý nghiêm, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.
Tuy nhiên, cần xem xét bị cáo là người không có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Căn cứ điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành công dân tốt. Thực hiện các quy định có lợi cho bị cáo khi quyết định hình phạt cần áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015 để quyết định trách nhiệm hình sự nhẹ hơn khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 đối với bị cáo.
Bị cáo lần đầu phạm tội về ma túy, không có tính chất vụ lợi nên không phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: 0,600 hêrôin (tang vật còn lại sau giám định) căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 76 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Như T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 BLHS năm 1999; Khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 76, Điều 99 BLTTHS. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Như T: 24 ( Hai tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/8/2017.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,600g Hêrôin tại phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và có chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đăng, Lại Thị Thanh Loan.
Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 48/THA ngày 05/12/2017 giữa Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa.
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7,9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Bị cáo; -VKSNDTPTH; - Công an TP. Thanh Hóa; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán ( Đã ký) Hồ Thị Minh Hạnh |