- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trần Thị Bích N yêu cầu ly hôn với ông Lê Trọng A"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 311/2026/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 02 - 2026 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Châu Thị Hồng Đào
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Hưng
2. Bà Nguyễn Kim Thủy
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Tuyến là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Phạm Văn Thanh - Kiểm sát viên.
Vào ngày 11 tháng 02 năm 2026, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 537/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5757/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 53/2026/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Trần Thị Bích N, sinh năm 1988; địa chỉ: số 120/18 Đường T, khu phố 22, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: ông Lê Trọng A, sinh năm 1987; địa chỉ: số 196 Đường K, khu phố 3, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(bà N, ông A vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện ngày 16 tháng 6 năm 2025, các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, bà Trần Thị Bích N là nguyên đơn trình bày:
Bà N với ông Lê Trọng A tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Thanh, huyện Tân Phú (nay là xã Tân Phú), tỉnh Đồng Nai vào ngày 16/6/2011.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng nhau, thường xuyên gây gỗ với nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Bà và ông A đã cố gắng dung hòa, giải tỏa mâu thuẫn nhưng không có kết quả, ông bà sống riêng và ly thân từ tháng 10/2024 cho đến nay. Bà không còn tình cảm với ông A, bà yêu cầu ly hôn với ông A để ổn định cuộc sống và tinh thần mà lo cho con.
Về con chung: bà N yêu cầu trực tiếp nuôi con chung tên Lê Trần Việt A, sinh ngày 17/5/2011.
Về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, nợ chung: bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
2. Bị đơn – ông Lê Trọng A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông A vắng mặt.
Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông A nhưng ông A không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và cũng không có ý kiến đối với các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
3.1 Về việc tuân theo pháp luật:
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng qui định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự về xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách của đương sự; thu thập chứng cứ …
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Nguyên đơn thực hiện đúng qui định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Bị đơn chưa thực hiện đúng qui định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025
3.2 Về nội dung vụ án:
Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 8, 9, 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Bà N yêu cầu ly hôn với ông A. Ông A cư trú tại phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án, đây là tranh chấp về ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về quan hệ hôn nhân:
- Hôn nhân giữa bà N và ông A là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 48/2011, quyển số 01/2011 ngày 16/6/2011 của Ủy ban nhân dân xã Phú Thanh, huyện Tân Phú (nay là xã Tân Phú), tỉnh Đồng Nai.
- Hôn nhân chỉ bền vững khi vợ chồng yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau vun đắp hạnh phúc gia đình. Xét, bà N yêu cầu ly hôn với ông A do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gỗ, không tôn trọng nhau dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Tòa án đã triệu tập ông A tham gia hòa giải để phân tích, động viên bà N và ông A giải tỏa mâu thuẫn, hàn gắn đoàn tụ nhưng ông A không đến Tòa, không cố gắng giữ gìn hạnh phúc gia đình. Căn cứ Điều 8 của Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2020 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của bà N và ông A trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử quyết định cho ly hôn.
Về con chung: bà N yêu cầu nuôi con chung tên Lê Trần Việt Anh cho đến tuổi trưởng thành và con có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi là đảm bảo quyền lợi của con.
Về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và nợ chung: Căn cứ Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không giải quyết do bà N không có yêu cầu.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Bích N được ly hôn với ông Lê Trọng A.
Giấy chứng nhận kết hôn số 48/2011, quyển số 01/2011 ngày 16/6/2011 của Ủy ban nhân dân xã Phú Thanh, huyện Tân Phú (nay là xã Tân Phú), tỉnh Đồng Nai hết hiệu lực.
2. Về con chung: bà N được trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Trần Việt Anh, sinh ngày 17/5/2011.
Ông A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và nợ chung: bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí sơ thẩm: bà N phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/25E số 0021704 ngày 01/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ án phí.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh;
- Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh;
- Ủy ban nhân dân xã Tân Phú, tỉnh Đồng Nai;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Châu Thị Hồng Đào
Thành viên
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Hội đồng xét xử
Châu Thị Hồng Đào
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân Vũ phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp; - Ủy ban nhân dân phường Bến Nghé, Quận 1; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Hồng Đào |