vanban.org

Bản án 311/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 15/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Đăng T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tịch thu để sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe máy hiệu Oriental, dãn nhãn hiệu Wave bên ngoài, BKS 17H9-7915, số khung 013PD036983, số máy 152FMH00036983, đã qua sử dụng thu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Đăng T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đăng T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 311/2023/HS-ST
Ngày 15-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Ánh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Minh và ông Nguyễn Văn Thông

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiệp, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023 tại 02 điểm cầu:

+ Điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử số 3 Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, địa chỉ: Ô đất A-VP, Khu C đường V, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội;

+ Điểm cầu thành phần: Trại Tạm giam số 1 Công an thành phố H, địa chỉ: Ngõ G P, quận N, thành phố Hà Nội.

Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 295/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 325/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

LÊ ĐĂNG T1, sinh năm 1991; ĐKHKTT: Số A Ngõ G T, phường P, quận B, thành phố Hà Nội; nơi ở theo bị cáo khai: Ngõ D Đường A, tập thể F, đường A, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đăng V và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Vũ Thị T và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam: từ ngày 02/7/2023, hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam số 2 Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần.

Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Mạnh Đ, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 01/7/2023, Lê Đăng T1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Oriental dán nhãn hiệu Wave, BKS 17H9-7915 đi tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực Vườn hoa H thuộc phường Y, quận H, thành phố Hà Nội, T1 gặp và mua của một người nam giới không quen biết khoảng 30 tuổi đang đứng ở lề đường 01(một) túi nilon kích thước (1,5x1,5)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp dạng đá với giá 300.000 đồng. T1 cất túi ma túy vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 00 giờ 35 phút ngày 02/7/2023, khi T1 đi đến khu vực trước Chung cư S đường P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội thì bị Tổ công tác Công an phường P kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ:

- 01(một) túi bên ngoài gói bằng nilon màu trắng kích thước (1,5x1,5cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy.

- 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Oriental, dán nhãn hiệu Wave, sơn màu xanh, BKS 17H9-7915, số khung VPDBCH013PD036983 số máy VPDOR152FMH00036983, đã qua sử dụng.

Kết luận giám định số 4579/KL-KTHS ngày 10/7/2023 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,148 gam. Trong giai đoạn điều tra, Lê Đăng T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 292/CT-VKS-HĐ ngày 11/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Lê Đăng T1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội luận tội cho rằng tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận tội phù hợp các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên giữ nguyên nội dung truy tố. Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách của Nhà nước về quản lý ma túy. Bị cáo có nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, cố ý thực hiện hành vi phạm tội, cần xử lý nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Đăng T1 từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa ma túy; đối với chiếc xe máy thu giữ của bị cáo: sau 01 năm kể từ ngày đăng báo tìm chủ sở hữu nếu không có người nhận thì sung công quỹ Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về đánh giá chứng cứ trong vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 23 giờ ngày 01/7/2023, Lê Đăng T1 điều khiển xe máy đến khu vực Vườn hoa H mua của một người nam giới không quen biết 0,148 gam Methamphetamine với số tiền 300.000 đồng. T1 cất túi ma túy vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 00 giờ 35 phút ngày 02/7/2023, khi T1 đi đến khu vực trước Chung cư S đường P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi của bị cáo Lê Đăng T1 là tàng trữ trái phép chất ma túy, căn cứ khối lượng ma túy, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và các tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, hành vi của bị cáo đã góp phần làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng, cần xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo thành người có ý thức chấp hành pháp luật; đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

- Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào hình phạt tù, cứ mỗi ngày tạm giữ, tạm giam được tính trừ một ngày tù.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ một số vật chứng cần xử lý như sau:

- Đối với 01 (một) xe máy hiệu Oriental, dãn nhãn hiệu Wave bên ngoài, BKS 17H9-7915, số khung 013PD036983, số máy 152FMH00036983, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Đăng T1: T1 khai nhận: khoảng năm 2019, T1 mua chiếc xe máy này của một người nam giới không quen biết với giá 2.000.000 đồng tại khu vực phường A, quận T, thành phố Hà Nội, khi mua xe không có giấy tờ. Kết quả điều tra xác định: chiếc xe được đăng ký sở hữu của ông Phan Văn Đ1, sinh năm 1953, ĐKHKTT: Xóm I, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Ông Đ1 khai: khoảng năm 2005 ông Đ1 mua xe và đăng ký sở hữu, đến năm 2010 ông Đ1 đã bán lại chiếc xe máy cho một người không quen biết, khi bán không làm thủ tục sang tên; nay ông Đ1 không có yêu cầu đề nghị gì. Chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng (BL49, 51, 66, 67). Ngày 25/8/2023, Cơ quan điều tra đã gửi Công văn yêu cầu B thủ đô đăng báo tìm chủ sở hữu đối với chiếc xe máy, đã đăng trên các số báo ra ngày 25, 26 và 28 tháng 8 năm 2023 (BL69 đến 71), đến nay chưa có ai liên hệ đến làm việc. Xác định chiếc xe máy là của T1, T1 sử dụng để đi mua ma túy tàng trữ trái phép nên cần tịch thu để sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 túi ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,148 gam, Cơ quan giám định trích mẫu 0,031gam. Số ma túy còn lại được cho vào 01 phong bì dán kín, tại các mép dán có chữ ký của Lê Đăng T1, cán bộ Công an Nguyễn Đình L, giám định viên Nguyễn Hoàng H1 (BL29, 30). Xét thấy, ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Lê Đăng T1 khai nhận mua ma túy của người nam giới không quen biết (không biết tên, nhân thân, lai lịch) tại khu vực Vườn hoa H, phường Y, quận H. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, nhưng ngoài lời khai của T1 không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên chưa có cơ sở để làm rõ. Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ đối tượng bán ma túy trong vụ án, đủ căn cứ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Đăng T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Đăng T1 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

- Tịch thu để sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe máy hiệu Oriental, dãn nhãn hiệu Wave bên ngoài, BKS 17H9-7915, số khung 013PD036983, số máy 152FMH00036983, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Đăng T1.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì dán kín chứa ma túy, tại các mép dán có chữ ký của Lê Đăng T1, cán bộ Công an Nguyễn Đình L, giám định viên Nguyễn Hoàng H1.

Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Đăng T1 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 15/11/2023.

Cỡ chữ