- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sợ thẩm - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 310/2019/HS-ST Ngày: 20 - 11 - 2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguy n Văn Đức.
2. Bà Dƣơng Thị Bạn.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguy n Hoàng Tấn, Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguy n Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 292/2019/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 308/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguy n Ngọc P, sinh ngày 05/12/2000 tại tỉnh An Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: p L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang; tạm trú: Số E6/30, khu phố B, phƣờng T, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguy n Ngọc T, sinh năm 1968 và bà Lê Thị T, sinh năm 1968; bị cáo chƣa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 27/3/2019 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Phạm Hải Đ (đã chết). Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Văn M, sinh năm 1972 và bà Lê Thị T, sinh năm 1977; cùng nơi cƣ trú: p C, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Ông M có mặt và bà T vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Bùi Công K, sinh năm 1953; nơi cƣ trú: p B, xã B, huyện V, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
Ông Nguy n Ngọc T, sinh năm 1968; nơi cƣ trú: p M, xã T, huyện P, tỉnh An Giang, có mặt.
- Ngƣời làm chứng:
1. Ông Phạm Hữu N, sinh năm 1985, vắng mặt.
2. Ông Trần Thành Đ, sinh năm 1992, vắng mặt.
3. Ông Phạm Văn Vũ L, sinh năm 1997, vắng mặt.
4. Ông Nguy n Văn T, sinh năm 2002, vắng mặt.
5. Ông Trần Minh T, sinh năm 1995, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/5/2018, Nguy n Ngọc P điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 61FE-8798 chở Phạm Hải Đ lƣu thông trên đƣờng Mỹ Phƣớc
- Tân Vạn hƣớng từ ngã sáu An Phú về ngã tƣ giao nhau giữa đƣờng Mỹ Phƣớc - Tân Vạn với đƣờng Thủ Khoa Huân. Khi đi đến đoạn ngã ba giao nhau giữa Mỹ Phƣớc -Tân Vạn với đƣờng Thuận Giao 02, Nguy n Ngọc P điều khiển xe va chạm phía sau bên trái của một xe mô tô hai bánh đang chạy phía trƣớc. Sau va chạm P và Đ bị ngã xuống đƣờng, Đ ngã xuống làn đƣờng ô tô tải và bị ô tô tải biển số 68C-056.02 do tài xế Phạm Hữu N đang lƣu thông cùng chiều cán qua ngƣời làm Phạm Hải Đ tử vong tại chỗ, P bị thƣơng đƣợc đƣa đi cấp cứu.
Căn cứ Biên bản khám nghiệm hiện trƣờng và khám nghiệm hiện phƣơng tiện xác định:
Hiện trƣờng là ngã tƣ giao nhau giữa đƣờng Mỹ Phƣớc - Tân Vạn với đƣờng Thuận Giao 02 thuộc khu phố Bình Thuận 2, phƣờng Thuận Giao, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Đƣờng Mỹ Phƣớc - Tân Vạn có bề rộng mặt đƣờng là 25m, đƣờng Thuận Giao 02 có bề rộng mặt đƣờng là 9,7m. Đƣờng Mỹ Phƣớc - Tân Vạn đƣợc chia thành hai chiều lƣu thông bằng nhau đƣợc ngăn cách bằng dãi phân cách bằng bê tông rộng 3m. Lấy cột mốc hiện trƣờng là đoạn trụ đèn chiếu sáng T8-01 đƣợc đặt tại đầu dãi phân cách bằng bê tông và cách đầu dãi phân cách là 3m. Lấy lề chuẩn là lề bên phải đƣờng Mỹ Phƣớc - Tân Vạn hƣớng từ ngã sáu An Phú về hƣớng đƣờng Thuận Giao 02.
Từ cột mốc hiện trƣờng đến trụ đèn tín hiệu giao thông gần nơi hiện trƣờng là 4,3m. Từ trụ đèn tín hiệu giao thông gần nơi xảy ra hiện trƣờng là 14,3m. Từ trụ đèn tín hiệu giao thông đến đầu đƣờng Thuận Giao 02 là 42,8m. Vết cày đƣợc ký hiệu số (1) trên sơ đồ hiện trƣờng có đầu cách cột mốc hiện trƣờng là 8,5m; chiều dài vết cày là 5,1m; điểm cuối vết cày là dƣới gầm xe mô tô mang biển số 61FE-8798. Đầu vết cày cách lề chuẩn 3,6m. Điểm có nhiều vết cày chằng chịt đƣợc ký hiệu số (2) trên sơ đồ hiện trƣờng cách đầu vết cày số (1) là 2,1m; cách lề chuẩn là 5,1m; cách trục bánh sau xe mô tô biển số 61FE-8798 là 3,3m.
Xe mô tô biển số 61FE-8798 cách cột mốc hiện trƣờng là 10,8m, xe mô tô đƣợc phát hiện trong tình trạng dựng đứng. Trục banh sau cách lề chuẩn là 4,4m; trục bánh trƣớc cách lề chuẩn 3,6m.
Xe ô tô tải biển số 68C-056.02 dừng đỗ trên mặt đƣờng Mỹ Phƣớc - Tân Vạn đầu xe quay về hƣớng đƣờng Thuận Giao 02, thân xe song song với lề chuẩn; trục bánh trƣớc và trục bánh sau bên phải cách lề đƣờng chuẩn là 4,8m. Trục bánh sau bên phải cách chân trái tử thi là 10,7m. Trục bánh trƣớc bên phải cách đầu đƣờng Thuận Giao 02 là 25,7m. Bánh trƣớc bên phải trầy bay bụi kích thƣớc 30x10cm; mép bên dƣới cản đầu xe bên phải trầy bay bụi dính sơn màu xanh kích thƣớc 4x1cm.
Tử thi Phạm Hải Đ nằm ngửa, hai tay, hai chân co tự nhiên; đầu cách lề chuẩn là 4,6m; cách trục bánh xe mô tô biển số 61FE-8798 là 1,2m; chân phải cách lề chuẩn là 3,7m và cách trục trƣớc bánh xe mô tô biển số 61FE-8798 là 1m.
Theo bản kết luận giám định pháp y tử thi số 363/GĐPY ngày 16/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Nguyên nhân chết của Phạm Hải Đ là đa chấn thƣơng, chấn thƣơng sọ não.
Theo bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 841/C09B ngày 16/01/2019 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tại thời điểm giám định (tháng 01/2019) Nguy n Ngọc P có độ tuổi từ 17 tuổi 09 tháng đến 18 tuổi 03 tháng.
Tại bản Cáo trạng số 301/CT-VKS-TA ngày 29/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố bị cáo Nguy n Ngọc P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguy n Ngọc P. Đồng thời, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguy n Ngọc P từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Bùi Công K đã hỗ trợ số tiền 105.000.000 đồng cho ngƣời đại diện của bị hại ông Phạm Văn M. Bị cáo cùng gia đình bị cáo bồi thƣờng cho đại diện của bị hại số tiền 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thêm số tiền 40.000.000 đồng và bị cáo đồng ý bồi thƣờng theo yêu cầu của ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với xe ô tô tải biển số 68C-056.02, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của ông Bùi Công K. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông K là phù hợp quy định của pháp luật. Đối với xe mô tô biển số 61FE-8798 quá trình điều trả xác định do bà Nguy n Thị N đứng tên sở hữu. Tuy nhiên hiện nay không xác định đƣợc bà Nguy n Thị N đang cƣ trú ở đâu nên chƣa làm việc đƣợc. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu nhƣng chƣa có ngƣời đến liên hệ giải quyết nên đề nghị tiếp tục giao cho Công an thị xã Thuận An tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại xác định sau khi xảy ra tai nạn, ông Bùi Công K có hỗ trợ 105.000.000 đồng cho gia đình bị hại và bị cáo cùng gia đình bị cáo có bồi thƣờng 10.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Tại phiên tòa, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thêm số tiền 40.000.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Công K trình bày: Ông K đã hỗ trợ gia đình bị hại số tiền 105.000.000 đồng và ông K không có yêu cầu gì đối với số tiền này. Đối với xe ô tô tải biển số 68C-056.02 là của ông K giao cho Phạm Hữu N để chở hàng hóa. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông K nên ông K không có ý kiến, yêu cầu gì.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguy n Ngọc T trình bày: Ông có đƣa cho bị cáo 5.000.000 đồng để bồi thƣờng cho gia đình bị hại. Đối với xe mô tô biển số 61FE-8798 do ông mua lại của một cửa hàng bán xe máy cũ nhƣng ông không làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Hiện nay xe mô tô biển số 61FE-8798 đang bị tạm giữ ở cơ quan điều tra, ông không có yêu cầu nhận lại chiếc xe và cũng không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thƣờng cho gia đình bị hại.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất tội danh, mức hình phạt theo lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; bị cáo đồng ý bồi thƣờng thêm số tiền 40.000.000 đồng theo yêu cầu của ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại. Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phát cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Nguy n Ngọc P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhƣ biên bản hiện trƣờng, sơ đồ và bản ảnh hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y, lời khai của ngƣời đại diện bị hại, lời khai của ngƣời có quyền, nghĩa vụ liên quan và ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/5/2018, Nguy n Ngọc P điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 61FE-8798 chở Phạm Hải Đ lƣu thông trên đƣờng Mỹ Phƣớc
- Tân Vạn. Khi đi đến đoạn ngã ba giao nhau giữa Mỹ Phƣớc -Tân Vạn với đƣờng Thuận Giao 02, Nguy n Ngọc P điều khiển xe va chạm phía sau với một xe mô tô hai bánh đang chạy phía trƣớc làm Đ ngã xuống làn đƣờng ô tô tải và bị ô tô tải biển số 68C-056.02 đang lƣu thông cùng chiều cán qua ngƣời làm Phạm Hải Đ tử vong tại chỗ.
Bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 61FE-8798 có dung tích xy lanh 49cm3 không giữ khoảng cách an toàn với xe đi liền trƣớc gây tai nạn dẫn đến bị hại Đ tử vong. Hành vi trên của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đƣờng bộ nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Nguy n Ngọc P với tội danh, điều, khoản nêu trên là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ khi tham gia giao thông không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy phía trƣớc có thể dẫn đến tai nạn nhƣng bị cáo không chấp hành các quy định pháp luật khi tham gia giao thông đƣờng bộ. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nƣớc về an toàn, trật tự công cộng, gây thiệt về tính mạng của ngƣời khác. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để bị cáo suy nghĩ lại hành vi phạm tội của mình, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thƣờng cho gia đình bị hại; ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, Theo bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 841/C09B ngày 16/01/2019 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tại thời điểm giám định (tháng 01/219) Nguy n Ngọc P có độ tuổi từ 17 tuổi 09 tháng đến 18 tuổi 03 tháng. Do đó, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chƣa đủ 18 tuổi nên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần áp dụng các quy định tại Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dƣới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Lời đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên đƣợc chấp nhận.
. Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thêm số tiền 40.000.000 đồng và bị cáo đồng ý bồi thƣờng theo yêu cầu của ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại nên ghi nhận.
Ông Bùi Công K không có bất cứ yêu cầu gì đối với số tiền 105.000.000 đồng đã hỗ trợ gia đình bị hại nên không đặt ra xem xét.
Ông Nguy n Ngọc T không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 5.000.000 đồng đã bồi thƣờng cho gia đình bị hại nên không đặt ra xem xét.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với xe ô tô tải biển số 68C-056.02, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của ông Bùi Công K nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An đã trả lại chiếc xe nêu trên cho ông K là đúng quy định.
Đối với xe mô tô biển số 61FE-8798, quá trình điều trả xác định do bà Nguy n Thị N đứng tên sở hữu. Tuy nhiên hiện nay không xác định đƣợc bà Nguy n Thị N đang cƣ trú ở đâu nên chƣa làm việc đƣợc. Ông Nguy n Ngọc T xác định do ông mua của một cửa hàng xe máy cũ nhƣng không làm thủ tục sang tên, chỉ còn bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu nhƣng chƣa có ngƣời đến liên hệ giải quyết và ông T không có yêu cầu nhận lại chiếc xe nêu trên nên cần tiếp tục giao cho Công an thị xã Thuận An tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 591 Bộ luật Dân sự và Điều 48 Bộ luật Hình sự
- Các Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguy n Ngọc P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguy n Ngọc P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thƣờng số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mƣơi triệu đồng) cho ông Phạm Văn M và bà Lê Thị T.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
3. Về xử lý vật chứng: Giao chiếc xe mô tô 02 hai bánh, nhãn hiệu Warm, số loại C50-1, dung tích sy lanh 49cm3, mang biển kiểm soát: 61FE-8798, có số khung: RVDPWCB13DP-006586, số máy: VDP1P39FMB006586 cho Công an thị xã Thuận An xử lý theo quy định của pháp luật.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/10/2019 giữa Công an thị xã Thuận An với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng).
3. Về án phí: Bị cáo Nguy n Ngọc P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết.
Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thuận An; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - Công an thị xã Thuận An; - Chánh án (để báo cáo); - Những ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ngọc Kiệt |