vanban.org

Bản án 310/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của bà Huỳnh Thị Cúc đối với ông Phạm Văn Quyền.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị C được ly hôn ông Phạm Văn Q. Về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Huỳnh Thị C yêu cầu ly hôn ông Phạm Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của bà Huỳnh Thị Cúc đối với ông Phạm Văn Quyền.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẨM LỆ -TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 310 /2018/HNGĐ-ST
Ngày: 10-10-2018
“V/v Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đức Hiếu

2. Ông Nguyễn Tấn Thức

-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thái Bình - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2018/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42A/2018/QĐXX-ST ngày 01 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị C, sinh năm: 1973; địa chỉ: tổ 25, phường T, quận L, thành phố Đà Nẵng; có mặt. 2. Bị đơn: Ông Phạm Văn Q, sinh năm: 1972; địa chỉ: tổ 31, phường Đ, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 3 năm 2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Huỳnh Thị C trình bày:

Bà và ông Phạm Văn Q kết hôn với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng (cũ), nay là phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với cha mẹ chồng tại phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ được khoảng hơn một năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Q thường xuyên uống rượu về gây gỗ, kinh tế gia đình khó khăn. Đồng thời, do vợ chồng chậm có con nên gia đình chồng gây áp lực đối với bà. Do không chịu đựng được nên bà C về nhà cha mẹ ruột ở được một thời gian, sau đó vì tình nghĩa vợ chồng nên bà trở về nhà cha mẹ chồng sống được khoảng 1 năm nhưng mâu thuẫn giữa vợ chồng, giữa cha mẹ chồng với con dâu vẫn không cải thiện được nên bà trở về sống nhà cha mẹ ruột từ đó đến nay. Vợ chồng không sống chung với nhau được khoảng hơn mười năm. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm gì với ông Q, vợ chồng không chung sống được với nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Văn Q.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã thông báo thụ lý vụ án cũng như nhiều lần triệu tập ông Phạm Văn Q đến Tòa án để hòa giải nhưng ông Q không có mặt nên không có bản tự khai.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Đã tuân thủ theo đúng quy định tại các Điều từ 26 đến Điều 40; Điều 68; các Điều từ 93 đến 97; Điều 195, Điều 196; Điều 203; các Điều từ 239 đến 243; Điều 246; Điều 247, các điều từ 249 đến 257; Điều 259; Điều 260 và Điều 263 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

+ Đối với đương sự là nguyên đơn: Đã tuân thủ đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Đối với đương sự là bị đơn: Chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của bà Huỳnh Thị C đối với ông Phạm Văn Q.

+ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị C được ly hôn ông Phạm Văn Q.

+ Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có

+ Về án phí: Bà C phải chịu theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng : Bị đơn là ông Phạm Văn Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Phạm Văn Q.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị C và ông Phạm Văn Q kết hôn với nhau từ năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng (cũ), nay là phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với cha mẹ chồng tại phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng được hơn một năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Qua lời khai của bà C, cũng như qua xác minh tại địa phương thể hiện: Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do ông Q thường xuyên uống rượu về gây gỗ với bà C, kinh tế gia đình khó khăn. Đồng thời, do vợ chồng chậm có con nên gia đình chồng lời ra tiếng vào gây áp lực đối với bà C, ông Q không động viên, chia sẻ mà bỏ mặc bà C. Do không chịu đựng được cuộc sống như vậy nên bà C về sống với cha mẹ ruột tại phường Hòa Thọ Tây, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng từ năm 2007 đến nay, ông Q và bà C mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai.

Xét hôn nhân giữa bà C và ông Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Đồng thời, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Q đến Tòa án để hòa giải nhưng ông Q không đến, cũng như tại phiên tòa hôm nay ông Q vắng mặt, điều này thể hiện ông Q không có thiện chí xây dựng hạnh phúc gia đình. Do vậy, cho bà C được ly hôn với ông Q là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà C xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Huỳnh Thị C phải chịu là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí (đã nộp tại biên lai thu số 0000328 ngày 02/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng). Như vậy, bà C đã nộp đủ án hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; các điều 147, 227 và 271 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của bà Huỳnh Thị Cúc đối với ông Phạm Văn Quyền.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị C được ly hôn ông Phạm Văn Q.

2.Về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có

3. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Huỳnh Thị C phải chịu là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí (đã nộp tại biên lai thu số 0000328 ngày 02/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng). Như vậy, bà C đã nộp đủ án hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Bà Huỳnh Thị C có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Phạm Văn Q có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND quận Cẩm Lệ;

- Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;

- Tòa án nhân dân tp. Đà Nẵng;

- UBND p. Hòa Thọ Đông, q. Cẩm Lệ.

- Lưu hồ sơ.

Nguyễn Thị Lệ Hằng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND quận Cẩm Lệ;

- Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;

- Tòa án nhân dân tp. Đà Nẵng;

- Lưu hồ sơ.

Nguyễn Thị Lệ Hằng

Cỡ chữ