vanban.org

Bản án 31/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị D phạm tội “ Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 07 ngày tạm giữ từ ngày 19/11/2025 đến ngày 25/11/2025 tương ứng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 05 (năm) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo khô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN THỊ T - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị D phạm tội “ Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 100 Luật Thi hành án hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2026/HS - ST
Ngày: 05 - 5 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Trọng Nghĩa

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 05 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2026/TLST - HS ngày 03 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2026/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị T

Sinh ngày 22 tháng 8 năm 1972, tại thành phố Đà Nẵng;

Nơi cư trú: thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và con bà Đinh Thị T1 (đã chết). Có chồng là Phạm H1 (đã chết) và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2008.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/11/2025 đến ngày 25/11/2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị D

Sinh ngày 02 tháng 11 năm 1982, tại tỉnh Nghệ An;

Nơi cư trú: thôn 5, xã E, tỉnh Đắk Lắk

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1956 và con bà Dương Thị T3, sinh năm 1959; Có chồng là Võ Quốc P, sinh năm 1974 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2009.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/11/2025 đến ngày 25/11/2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn 5, xã E, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 2, xã E, tỉnh Đắk Lắk.

+ Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1973 (có đơn xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 10, xã E, tỉnh Đắk Lắk.

+ Ông Lê Ngọc T4, sinh năm 1969 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 5, xã E, tỉnh Đắk Lắk.

+ Ông Phạm Văn C, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 10, xã E, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị T là người bán vé số tại thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk, do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên vào ngày 16/11/2025 và ngày 17/11/2025, Nguyễn Thị T đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số đề thắng thua bằng tiền Việt Nam đồng với Nguyễn Thị D; Nguyễn Văn V; Nguyễn Thị Q; Lê Ngọc T4; Phạm Văn C. Vào các ngày 16, 17/11/2025, trước khi mở thưởng kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh thành trên cả nước, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng, đăng nhập vào ứng dụng Zalo tên “Vạn Sự Như Ý” đăng ký bằng số thuê bao 0916206082 và tin nhắn SMS qua số thuê bao 0812407478 để nhận ghi số đề từ D, V, Q, T4, C. Sau khi có kết quả xổ số, T sẽ tổng hợp lại tính tiền thắng thua rồi giao dịch tiền cá cược với các con bạc.

Hình thức đánh số đề và cách xác định thắng thua cụ thể như sau: Người ghi số đề và người mua số đề quy ước trước với nhau về việc lấy các con số cuối (Mua hai con số hàng chục, hàng đơn vị hoặc ba con số hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị) của kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh thành trong cả nước để đối chiếu xác định thắng, thua. Đối với xổ số kiến thiết miền Bắc, mỗi ngày có một tỉnh thành mở kết quả xổ số; còn đối với xổ số kiến thiết miền Trung, ngày 16/11/2025, người chơi quy ước lấy kết quả xổ số tỉnh Kon Tum, ngày 17/11/2025, người chơi quy ước lấy kết quả xổ số tỉnh Phú Yên để đối chiếu xác định thắng thua. Kết quả xổ số gồm 09 giải từ giải Tám đến giải Đặc biệt với 18 lô số ở tất cả các giải, người chơi mua số có 02 chữ số tất cả các lô (18 lô số đối với kết quả xổ số kiến thiết miền Trung, mỗi điểm đặt cược quy ước từ 13.500đồng/điểm (T thỏa thuận với D ) hoặc 14.000 đồng/điểm (T thỏa thuận với C, V, Q, T4 ) và 27 lô số đối với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc, gọi chung là đài Bắc, mỗi điểm đặt cược quy ước là 21.500đồng/điểm) gọi là bao lô 02 số, kết quả xổ số kiến thiết có số cuối trùng với số con bạc mua thì thắng cược với tỉ lệ là trúng 1 điểm bao lô thắng 70.000 đồng (Bảy mươi ngàn đồng) đối với đài Trung và đài Bắc.

Bằng phương thức và thủ đoạn nêu trên, T, D cùng các đối tượng trên nhận và chuyển phơi số đề căn cứ kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền Trung và miền Bắc để xác định thắng thua, cụ thể như sau:

Vào ngày 16/11/2025 căn cứ kết quả xổ số Kon Tum, Nguyễn Thị T nhận tin nhắn phơi đề SMS từ Phạm Văn C (sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, gắn sim thuê bao 0868709817) với nội dung “76x10. 81x10” nghĩa là cá cược con số 76, 81 mỗi số 10 điểm thành tiền là 280.000 đồng (Hai trăm tám mươi ngàn đồng). So sánh kết quả xổ số C không trúng. Tiền đánh bạc giữa T với C chưa thanh toán thắng thua với nhau.

Vào ngày 17/11/2025 dựa trên kết quả xổ số Phú Yên và kết quả xổ số miền Bắc, Nguyễn Thị T nhận các phơi đề cá cược từ Nguyễn Thị D, Nguyễn Văn V, Nguyễn Thị Q, Lê Ngọc T4:

Nhận phơi đề từ Nguyễn Thị D (sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 2020, màu xanh, đăng nhập bằng tài khoản Zalo tên “Vạn Sự Tùy Duyên”, đăng ký bằng số thuê bao 0982184782) các phơi đề:

- Dựa trên kết quả xổ số Phú Yên, D gửi cho T 03 phơi đề gồm:

“33 x 300” là số 33 cược bao lô là 300 điểm thành tiền là 4.050.000 đồng (Bốn triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).

“21 x 300” là số 21 cược bao lô là 300 điểm thành tiền là 4.050.000 đồng (Bốn triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).

“57 x 300” là số 57 cược bao lô là 300 điểm thành tiền là 4.050.000 đồng. (Bốn triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).

So sánh kết quả xổ số Phú Yên ngày 17/11/2025, D không trúng. Tổng số tiền T cá cược với D dựa trên kết quả xổ số Phú Yên là 12.150.000 đồng (Mười hai triệu một trăm năm mươi ngàn đồng). Tiền đánh bạc giữa T và D chưa thanh toán thắng thua với nhau.

- Dựa trên kết quả xổ số miền Bắc, D gửi cho T phơi đề “07.70 x 150” là các số 07, 70 cược bao lô mỗi số là 150 điểm thành tiền là 6.450.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).

So sánh kết quả xổ số miền Bắc ngày 17/11/2025, D trúng con số: 70, tương ứng số tiền trúng là 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm ngàn đồng). Tổng số tiền T cá cược với D dựa trên kết quả xổ số miền Bắc là 16.950.000 đồng (Mười sáu triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng). Tiền đánh bạc giữa T với D chưa thanh toán thắng thua với nhau.

Nhận từ Nguyễn Văn V (sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, đăng nhập bằng tài khoản zalo tên “Văn V”, đăng ký bằng số thuê bao 0948678847), dựa trên kết quả xổ số Phú Yên, V gửi cho T các phơi đề:

“99 x 15” là số 99 cược bao lô là 15 điểm thành tiền là 210.000 đồng.

“41 x 15” là số 41 cược bao lô là 15 điểm thành tiền là 210.000 đồng.

So sánh kết quả xổ số Phú Yên ngày 17/11/2025, V trúng con số: 41, tương ứng số tiền trúng là 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi ngàn đồng). Tổng số tiền T cá cược với V là 1.470.000 đồng (Một triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng). Tiền đánh bạc giữa T và V chưa T toán thắng thua với nhau.

Nhận từ Nguyễn Thị Q (sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C65, màu xanh, đăng nhập bằng tài khoản zalo tên “Nguyên Thị Q”, đăng ký bằng số thuê bao 0362863418) dựa trên kết quả xổ số Phú Yên, Q gửi cho T phơi đề: “73x10” là số 73 cược bao lô là 10 điểm thành tiền là 140.000 đồng. So sánh kết quả xổ số Phú Yên ngày 17/11/2025, Q không trúng. Tổng số tiền T cá cược với Q là 140.000 đồng (Một trăm bốn mươi ngàn đồng). Tiền đánh bạc giữa T và Q chưa thanh toán thắng thua với nhau.

Nhận từ Lê Ngọc T4 (sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 13x, màu vàng, gắn sim số thuê bao 0935769928 nhắn SMS) phơi đề: “81 73x5 âm 3” là các số 81, 73 cược bao lô mỗi số là 5 điểm thành tiền là 140.000 đồng. “Âm 3” tức là T4 đã thanh toán số tiền 110.000 đồng (Một trăm mười ngàn đồng) và còn nợ số tiền 30.000 đồng (Ba mươi ngàn đồng) chưa thanh toán. So sánh kết quả xổ số Phú Yên ngày 17/11/2025, T4 không trúng. Tổng số tiền T cá cược với T4 là 140.000 đồng (Một trăm bốn mười ngàn đồng).

Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh nêu trên, ngày 19/11/2025 hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị D và những người nêu trên bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk phát hiện, xử lý.

Tại bản cáo trạng số 10/CT – VKS ngày 02 tháng 4 năm 2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị D về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị D đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Kiểm sát viên tại phiên tòa đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đưa ra các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 35; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ, khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/11/2025 đến ngày 25/11/2025, một ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Xử phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/11/2025 đến ngày 25/11/2025, một ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Xử phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với các công cụ, phương tiện dùng vào việc đánh bạc như sau:.

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng, số Imei: 356117098524806, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị T .

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 2020, màu xanh, số Imei: 860028040619629, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị D .

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, số Imei: 357267095654681, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn V .

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 13x, màu vàng, số imei: 865700071994387, đã qua sử dụng của Lê Ngọc T4 .

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C65, màu xanh, số Imei: 861880070568616, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Q.

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số Imei: 353056095695008, đã qua sử dụng của Phạm Văn C.

Đối với số tiền 11.660.000 đồng của Nguyễn Thị T; 18.600.000 đồng của Nguyễn Thị D; 420.000 đồng của Nguyễn Văn V ; 140.000 đồng của Nguyễn Thị Q; 30.000 đồng Lê Ngọc T4 ; 280.000 đồng của Phạm Văn C sử dụng vào việc đánh bạc, truy thu sung ngân sách nhà nước.

Các bị cáo không ý kiến tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của hai bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 17/11/2025, căn cứ vào kết quả sổ xố kiến thiết tỉnh Phú Yên và kết quả xổ số miền Bắc, Nguyễn Thị T đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức ghi số đề, thắng thua bằng tiền Việt Nam đồng với Nguyễn Thị D, Nguyễn Văn V, Nguyễn Thị Q, Lê Ngọc T4. Tổng số tiền Nguyễn Thị T đánh bạc vào ngày 17/11/2025 là 30.850.000 đồng, trong đó:

+ Nguyễn Thị T đánh bạc với Nguyễn Thị D tổng số tiền 29.100.000 đồng (12.150.000 đồng đài Phú Yên và 16.950.000 đồng đài miền Bắc).

+ Nguyễn Thị T đánh bạc với Nguyễn Văn V 1.470.000 đồng;

+ Nguyễn Thị T đánh bạc với Nguyễn Thị Q 140.000 đồng;

+ Nguyễn Thị T đánh bạc với Lê Ngọc T4 140.000 đồng.

Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị T và bị cáo Nguyễn Thị D đã phạm vào tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015.

Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

"1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Hành vi đánh bạc của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự trị an nơi công cộng và của địa phương, đồng thời gây ảnh hưởng xấu nhiều mặt tới cuộc sống bình thường của gia đình các bị cáo, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã gây ra.

Các bị cáo là người có đủ năng lực hành vi và nhận thức. Các bị cáo đều biết được rằng đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật là vi phạm pháp luật, là tệ nạn xã hội bị Nhà nước nghiêm cấm. Song do ý thức coi thường pháp luật, thói tham lam tư lợi, muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị T và bị cáo Nguyễn Thị D đã thực hiện đánh bạc 02 lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T và bị cáo D có nhân thân tốt, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo T ngoài hành vi ghi đề với bị cáo D còn ghi đề cho Nguyễn Văn V, Nguyễn Thị Q, Lê Ngọc T4 nên hình phạt của bị cáo T sẽ cao hơn bị cáo D.

Với tính chất mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân, hoàn cảnh gia đình của các bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự cho các bị cáo chấp hành án dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đủ mức răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, hình phạt chính là có căn cứ, cần chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị phạt tiền bổ sung. Tuy nhiên, qua tài liệu thu thập được và thẩm tra công khai tại phiên tòa thấy rằng các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập không bảo đảm, điều kiện kinh tế khó khăn, bị cáo T thuộc diện hộ cận nghèo, phải nuôi hai con đang đi học; Bị cáo D phải nuôi 02 con đi học, nuôi dưỡng mẹ chồng cao tuổi nên xét không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Đối với công cụ, phương tiện sử dụng vào việc đánh bạc gồm: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng, số Imei: 356117098524806, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị T; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 2020, màu xanh, số Imei: 860028040619629, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị D ; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, số Imei: 357267095654681, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn V ; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 13x, màu vàng, số imei: 865700071994387, đã qua sử dụng của Lê Ngọc T4; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C65, màu xanh, số Imei: 861880070568616, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Q; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số Imei: 353056095695008, đã qua sử dụng của Phạm Văn C cần tịch thu sung ngân sách nhà nước là phù hợp

- Đối với số tiền 11.660.000 đồng của Nguyễn Thị T; 18.600.000 đồng của Nguyễn Thị D ; 420.000 đồng của Nguyễn Văn V; 140.000 đồng của Nguyễn Thị Q; 30.000 đồng Lê Ngọc T4; 280.000 đồng của Phạm Văn C là số tiền các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc, cần truy thu sung ngân sách nhà nước là phù hợp.

Đối với hành vi đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng của Nguyễn Văn V, Nguyễn Thị Q, Lê Ngọc T4 (vào ngày 17/11/2025) và Nguyễn Thị T, Phạm Văn C (vào ngày 16/11/2025). Quá trình xác minh xác định, tại thời điểm ngày 16 và ngày 17/11/2025, Nguyễn Văn V, Nguyễn Thị Q, Lê Ngọc T4, Nguyễn Thị T, Phạm Văn C chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Do đó, hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn V , Nguyễn Thị Q, Lê Ngọc T4 (vào ngày 17/11/2025) và Nguyễn Thị T, Phạm Văn C (vào ngày 16/11/2025) không cấu thành tội Đánh bạc mà chỉ là vi phạm hành chính. Phòng Cảnh sát Hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn V , Nguyễn Thị Q, Lê Ngọc T4 , Phạm Văn C về hành vi “mua các số lô, số đề” và xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị T về hành vi “Bán số lô, số đề” bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị T thuộc đối tượng hộ cận nghèo của xã E có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Thị D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị D phạm tội “ Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 07 ngày tạm giữ từ ngày 19/11/2025 đến ngày 25/11/2025 tương ứng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 05 (năm) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk nhận được Quyết định thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 01 (một) năm 02 (hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 07 ngày tạm giữ từ ngày 19/11/2025 đến ngày 25/11/2025 tương ứng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 01 (một) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk nhận được Quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân dân xã EaMdroh, tỉnh Đắk Lắk; Giao bị cáo Nguyễn Thị D cho Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ, gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được áp dụng theo Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Truy thu sung ngân sách nhà nước: Bị cáo Nguyễn Thị T số tiền 11.660.000 đồng; Bị cáo Nguyễn Thị D số tiền 18.600.000 đồng; ông Nguyễn Văn V số tiền 420.000 đồng; bà Nguyễn Thị Q số tiền 140.000 đồng; ông Lê Ngọc T4 số tiền 30.000 đồng; ông Phạm Văn C số tiền 280.000 đồng.

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước:

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng, số Imei: 356117098524806, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị T .

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 2020, màu xanh, số Imei: 860028040619629, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị D .

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, số Imei: 357267095654681, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn V .

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 13x, màu vàng, số imei: 865700071994387, đã qua sử dụng của Lê Ngọc T4 .

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C65, màu xanh, số Imei: 861880070568616, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Q.

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số Imei: 353056095695008, đã qua sử dụng của Phạm Văn C.

(Tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra – Công an tỉnh Đắk Lăk và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Đắk Lắk ngày 06/4/2026).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ