vanban.org

Bản án 31/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 15/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, các Điều 299 và 326 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn tù được tính Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2026/HS-ST
Ngày: 15-4-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Ven;

2. Ông Võ Văn Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2

- Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh

tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tùng - Kiểm sát viên.

Vào ngày 15 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tây

Ninh, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:

27/2026/HSST ngày 10 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

33/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh ngày 10-9-1987, tại Tây Ninh; Nơi cư trú: Ấp M, xã Đ,

tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Dân tộc:

Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn

T1 và bà Phạm Ngọc T2; Bị can chưa có vợ, con; Tiền án,tiền sự, nhân thân: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13-9-2025 đến nay. (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Trần Ngọc Đ, sinh năm 1952; Nơi cư trú: Số C, C, Khu phố A, phường

N, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);

+ Ông Phạm Hoàng C, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh

(có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Do nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên khoảng 11 giờ ngày 12-9-2025,

Nguyễn Thanh T điều khiển xe mô tô biển số 51F3-93.28 đi đến khu vực xã A, tỉnh Tây Ninh để tìm người mua ma túy. T chạy rẽ vào một đường đá xanh gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch, T hỏi mua ma túy số tiền 200.000 đồng, người đàn ông cầm tiền và đưa cho T một ống hút nhựa hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất ma túy bỏ trong gói thuốc lá nhãn hiệu Hero màu xanh. Sau khi mua ma túy xong, T bỏ đoạn ống hút chứa ma túy vào túi quần bên trái đang mặc rồi chạy xe về nhà. Đến khoảng 12 giờ 10 phút ngày 12-9-2025, khi T đi đến đoạn đường tỉnh lộ 822 thuộc ấp T, xã Đ, tỉnh Tây Ninh thì bị lực lượng Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang.

Tại Bản kết luận giám định số 1820/KL-KTHS ngày 18-9-2025 của Phòng K

Công an tỉnh T kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa hàn kín, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2001 gam. H lại đối tượng giám định: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,1585 gam và bỏ bao đựng mẫu gửi giám định được niêm phong.

Cáo trạng số 12-CT-VKSKV2 ngày 10-3-2026 của Viện Kiểm sát nhân dân

khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo bị cáo Nguyễn Thanh Tú về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy

tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc Đ: xe mô tô

nhãn hiệu Honda, loại Dream màu nâu gắn biển số 51F3-9328 do bà mua và đăng ký từ năm 1997, đến năm 2001 không có nhu cầu sử dụng nên bà đã bán cho người khác nhưng không nhớ là ai, khi bán có viết giấy tay; Xe bà đã bán nên bà không còn liên quan và cũng không yêu cầu gì đối với chiếc xe trên.

- Lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hoàng C: xe mô

tô nhãn hiệu Honda, loại Dream màu nâu gắn biển số 51F3-9328 ông mua năm 2001, giá 10.000.000 đồng, từ một tiệm cầm đồ thuộc quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cũ để làm phương tiện đi lại. Năm 2023, em rể ông là Nguyễn Thanh T không có phương tiện đi làm nên ông cho mượn xe này làm phương tiện đi lại, thực chất là cho T luôn; Sau khi giao xe thì ông không biết việc T sử dụng xe làm gì; lúc giao xe cho T thì số khung, số máy không bị thay đổi. Ông đã cho T xe này nên không có yêu cầu gì.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, đề

nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

+ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38

và Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T từ 3 năm đến 4 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2

Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt có sọc màu xanh, dài 03

cm, đường kính 01cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (Mẫu còn lại sau giám định

có khối lượng 0,1585 gam và bỏ bao đựng mẫu gửi giám định được niêm phong):

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream,

màu nâu-đen, biển số 51F3-9328.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của Cơ quan cảnh sát điều tra,

Quyết định phê chuẩn khởi tố bị can và Cáo trạng truy tố bị cáo của Viện kiểm sát

đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hành vi tố tụng của

Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng

Hình sự.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc Đ vắng

mặt tại phiên tòa. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc Đ

đã có lời khai rõ ràng trong hồ sơ vụ án và việc xét xử không ảnh hưởng đến quyền

lợi, nghĩa vụ của họ. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Khoảng 12 giờ 10 phút, ngày 12-9-2025, tại đoạn đường tỉnh lộ 822 thuộc

ấp T, xã Đ, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Nguyễn Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép chất

ma túy khối lượng 0,2001 gam, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cá

nhân, thì bị lực lượng Công an xã Đ, tỉnh Tây Ninh phát hiện bắt quả tang.

Tại phiên toà, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của

bị cáo T phù hợp khách quan với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập lúc 12

giờ 15 phút ngày 12-9-2025, Bản kết luận giám định số 1820/KL-KTHS ngày

18/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh T, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

Bị cáo T đủ lý trí và năng lực để nhận thức được việc đủ lý trí và năng lực

để nhận thức được hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật,

nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý;

Đã đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép

chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 12-CT-VKSKV2 ngày 10-3-2026 của Viện Kiểm sát nhân

dân khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo T với tội danh và điều luật

nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã xâm

phạm chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, có khả năng gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khoẻ con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm; Không những thế, hành vi của bị cáo còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây phẫn nộ, bất bình trong quần chúng nhân dân; Hành vi của bị cáo T cần được xử lý nghiêm, bị cáo có nhân thân xấu, cần cách bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét bị cáo T phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm

nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, cha mẹ hìa yếu, bị cáo là lao động chính, bị cáo có cậu ruột được tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng III, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Bị cáo T không nghề nghiệp, không có thu nhập, không áp dụng hình phạt

bổ sung đối với bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo T

là có căn cứ pháp luật.

Về xử lý vật chứng, căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các

Điều 46, 47 và 48 của Bộ luật Hình sự, xét thấy:

+ 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu Oppo A3S, màu đỏ, gắn sim số

0363.764.892 do không liên quan đến việc phạm tội cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý đồ vật tài liệu trả lại cho Nguyễn Thanh T xong nên không tiếp tục đề cập là phù hợp.

+ 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt có sọc màu xanh, dài 03 cm, đường kính

01 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng 0,1585 gam và bỏ bao đựng mẫu gửi giám định được niêm phong) đề nghị tịch thu tiêu hủy là phù hợp;

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, màu nâu-đen, biển số 51F3-9328:

Theo Kết luận giám định số 3092/KL-KTHSW ngày 14-01-2026 của Phòng K Công an tỉnh T xác định xe có hiện trạng số khung bị xóa không xác định được số nguyên thủy, số máy không bị đục xóa (số GEE-1017510); Đây là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện tội phạm, tịch thu sung ngân sách nhà nước là phù hợp. Vật chứng Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Tây Ninh quản lý.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần

Ngọc Đ và ông Phạm Hoàng C không có yêu cầu gì nên không đề cập.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T không rõ nhân thân lai lịch nên

không có căn cứ để xử lý theo quy định pháp luật. Nhằm tránh bỏ lọt tội phạm, kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau theo quy định của pháp luật

Về án phí, căn cứ các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí

Tòa án xét thấy: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy”.

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều

38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, các Điều 299 và 326 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,

xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn tù được tính

từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 13-9-2025).

- Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo

Nguyễn Thanh T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15-4-2026), để

đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

- Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các Điều

46, 47 và 48 của Bộ luật Hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt có sọc màu xanh, dài 03

cm, đường kính 01 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (Mẫu còn lại sau giám định

có khối lượng 0,1585 gam và bỏ bao đựng mẫu gửi giám định được niêm phong).

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream,

màu nâu-đen, biển số 51F3-9328.

Vật chứng Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh

quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 10/QĐ-VKSKV2 và bảng kê vật chứng

cùng ngày 10-3-2026, Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12-3-2026.

- Về án phí: Áp dụng các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí

Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)

án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, được quyền kháng

cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày

15-4-2026).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo bản

án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc

từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ