- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm QĐVTGGTĐB - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Vũ Xuân N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2026/HS-ST Ngày: 26-6-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Đào Thị Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Văn Học
2. Bà Nguyễn Thị Hoan.
- Thư ký Tòa án: bà Lê Thị Thu Linh – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Phan Văn Tuyến – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2026/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2026/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo:
Vũ Xuân N, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1998; tại: tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm H, xã Y, tỉnh Ninh Bình; số CCCD: 037098001827; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Vũ Xuân L và con Phạm Thị G; chưa có vợ, con; tiền án; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 26/3/2026 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: chị Trần Thị H, sinh năm 1999, trú xóm H, xã Y, tỉnh Ninh Bình (đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
+ Anh Vũ Quốc Đ, sinh năm 1986; trú tại: xóm H, xã Y, tỉnh Ninh Bình.
+ Ông Trần Văn P, sinh năm 1973; trú tại: xóm H, xã C, tỉnh Ninh Bình.
+ Bà Hoàng Ngọc T, sinh năm 1981; trú tại: xóm H, xã C, tỉnh Ninh Bình.
(ông Trần Văn P, bà Hoàng Ngọc T uỷ quyền cho anh Vũ Quốc Đ tham gia tố tụng theo Giấy uỷ quyền ngày 02/12/2025) (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Vũ Xuân Ph, sinh năm 1994; địa chỉ: xóm H, xã Y, tỉnh Ninh Bình (có mặt)
- Người làm chứng:
+ Chị Trần Thị N (vắng mặt)
+ Anh Vũ Xuân V (vắng mặt)
+ Ông Vũ Xuân K (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Xuân N có Giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Hưng Yên cấp ngày 26/10/2016, có giá trị không thời hạn. Ngày 27/11/2025 N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, biển kiểm soát (BKS) 35K1-257.77 di chuyển theo lộ trình tuyến đường quốc lộ 12B từ khu vực chợ Bút, xã Yên Mạc về xóm 2 Hồng Thắng, xã Yên Mạc, tỉnh Ninh Bình. Đến 18 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi đến Km24+950 quốc lộ 12B thuộc xóm 1 Hồng Thắng, xã Yên Mạc, tỉnh Ninh Bình, N điều khiển xe với tốc độ khoảng 40-50km/h (lúc này trong người N không có nồng độ cồn và không có chất ma túy). Thời điểm này trời tối, hai bên đường không có đèn đường chiếu sáng, chỉ có đèn của các phương tiện di chuyển trên đường và ánh sáng đèn điện của nhà dân xung quanh, trên đường có nhiều phương tiện khác tham gia giao thông. Lúc này N phát hiện thấy chị Trần Thị H, sinh năm 1999, trú xóm H, xã Y, tỉnh Ninh Bình đi bộ từ lề đường bên phải sang bên trái đường quốc lộ 12B theo hướng đi của N, N không giảm tốc độ để tránh chị H mà giữ nguyên tốc độ tiếp tục di chuyển, lúc này chị H chạy sang đường, N bóp phanh tay bên trái (phanh sau) và điều khiển xe mô tô chếch sang trái để tránh chị H nhưng do khoảng cách gần và do N không giảm tốc độ đến mức an toàn phù hợp nên phần đầu xe bên phải xe mô tô BKS 35K1-257.77 do N điều khiển đã va chạm với chị H khiến N bị ngã xuống đường, chị H bị ngã đập đầu xuống đường, xe mô tô BKS 35K1-257.77 đổ nghiêng bên phải trên mặt đường quốc lộ 12B. Hậu quả, chị H bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình, sau đó chuyển đến Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức điều trị, đến ngày 30/11/2025 tử vong. N bị thương được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế Yên Mô, sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình điều trị, đến ngày 09/12/2025 xuất viện. Xe mô tô bị hư hỏng.
Sau tai nạn Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra tai nạn, khám nghiệm phương tiện xe mô tô BKS 35K1 – 257.77; giám định pháp y.
Kết quả khám nghiệm hiện trường Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại Km 24 + 950 Quốc lộ 12B thuộc xóm 1 Hồng Thắng, xã Yên Mạc, tỉnh Ninh Bình. Đường Quốc lộ 12B trải bê tông phẳng rộng 11m, mặt đường không có vạch sơn phân chia chiều đường, làn đường. Tiếp giáp với mép đường 2 bên là vỉa hè trạt xi măng cát, chỗ rộng nhất của vỉa hè bên phải chiều xã Yên Từ - xã Lai Thành rộng 4,3 m, chỗ rộng nhất của vỉa hè bên trái chiều xã Yên Từ - xã Lai Thành rộng 4 m. Tiếp giáp với vỉa hè 2 bên là khu vực nhà của các hộ dân thuộc xóm 1 Hồng Thắng, xã Yên Mạc, tỉnh Ninh Bình. Đo từ cột Km 25 QL12B về phía đi xã Lai Thành đến mép ngoài bức tường nhà anh Vũ Xuân V, sinh năm 1993, trú tại xóm H, xã Y, tỉnh Ninh Bình là 42,7m. Tại vị trí phía dưới mái tôn trước cửa nhà anh Vũ Xuân V có lắp đặt camera an ninh quay góc hướng về phía đoạn đường xảy ra tai nạn. Đoạn đường xảy ra tai nạn không có hệ thống biển báo giao thông.
Kết quả khám nghiệm xe mô tô BKS 35K1 – 257.77 ghi nhận các dấu vết sau: Mặt trước bên phải ốp nhựa bảo vệ tay lái có vết nứt vỡ sạt xước nhựa KT (10x6)cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 101cm, điểm cao nhất cao cách mặt đất 106cm, vết sạt xước có chiều từ trước về sau; Ốp nhựa bảo vệ cụm đèn chiếu sáng phía trước bên phải có vết vỡ nhựa, vết sạt xước nhựa KT (40x8)cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 62,5cm, điểm cao nhất cao cách mặt đất 91cm, vết sạt xước có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới; Vỡ rơi toàn bộ cánh yếm bên phải; Mặt trước đầu ngoài bên phải tay lái có vết sạt xước kim loại + cao su KT (3x2)cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 99,5cm, điểm cao nhất cao cách mặt đất 101cm; Đầu ngoài tay nắm bên phải có vết sạt xước kim loại KT (1,5x1)cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 95cm, điểm cao nhất cao cách mặt đất 96cm; Bật bung chốt bắt giữ ốp nhựa thân xe bên phải tại vị trí phía dưới giả để hàng, rộng nhất 2cm; Mặt ngoài giá để chân người lái bên phải có vết sạt xước nhựa KT (54x8)cm, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 22,5cm, điểm cao nhất cao cách mặt đất 30,5cm; Mặt ngoài ốp nhựa thân xe bên phải tại vị trí phía dưới yên xe có vết sạt xước mài mòn nhựa KT (21x7)cm, vết sạt xước có chiều dài từ trước về sau, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 64cm, điểm cao nhất cao cách mặt đất 71cm; Mặt dưới + mặt phía trước giá để chân người ngồi sau bên phải có vết sạt kim loại KT (2x0,5)cm; Mặt ngoài thanh bắt giữ giá để chân người ngồi sau bên phải có vết sạt kim loại KT (2x0,5)cm; Mặt ngoài ống xả có hàn gắn 02 thanh kim loại, trên 02 thanh kim loại có vết sạt xước, thanh thứ nhất KT (6,5x0,7)cm, thanh thứ hai KT (4,5x1,5)cm; Ốp nhựa hộp đựng đồ phía dưới bên trái tay lái bị đứt vỡ nhựa KT (5x0,1)cm; Bật bung chốt bắt giữ ốp mặt nạ; Mặt lăn bên phải bánh trước có 02 vết sạt cao su. Vết thứ nhất KT (18x3,5)cm, vết có chiều dài từ tâm bánh hướng ra ngoài, điểm gần nhất thắng vị trí chữ "I" của dòng chữ “ROTATION” trên má lốp. Vết thứ hai KT (23x3)cm, vết có chiều dài từ tâm bánh hướng ra ngoài, điểm gần nhất cách số “3” của dòng chữ số “36P” trên má lốp là 7cm theo chiều kim đồng hồ. Hệ thống khởi động xe, đèn, phanh xe hoạt động bình thường, đầy đủ. Xe mô tô bị hư hỏng.
Tại bản kết luận giám định số 2107/KL-KTHS ngày 30/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: "Nguyên nhân chết của Trần Thị H: Chấn thương sọ não."
Tại bản kết luận giám định số 57/KLTTCT-TTPY ngày 02/02/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận: “Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Xuân N, sinh năm 1998 tại thời điểm giám định là 41% (Bốn mươi mốt phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích. Do vật tày trực tiếp gây nên”.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-ĐGTS ngày 15/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự xã Yên Mạc kết luận: “Tại thời điểm tháng 11/2025, giá trị để khắc phục, sửa chữa, thay mới các bộ phận của tài sản theo yêu cầu định giá do tai nạn giao thông là: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 35K1 – 257.77, nhãn hiệu SUZUKI, số loại UV125FI, dung tích 124, màu sơn: Nâu vàng, số máy: F4F3114582, số khung 4EYNHV100881, xe cũ đã qua sử dụng là: 2.370.000 đồng (Hai triệu ba trăm bảy mươi triệu đồng).”
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh giám định dấu vết cơ học. Tại bản kết luận giám định số 1036/KL-KTHS ngày 09/02/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mặt lăn và má lốp phải bánh trước xe mô tô biển số 35K1-257.77 có dấu vết phù hợp va chạm với nạn nhân Trần Thị H, sinh năm 1999.”
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã thu giữ 03 tệp tin video ghi lại nội dung vụ tai nạn giao thông, gửi giám định. Tại Bản kết luận giám định số 2156/KL-KTHS ngày 03/01/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
"- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 03 (ba) tệp tin video lưu trữ trong 02 (hai) USB gửi giám định.
- Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô xảy ra tai nạn xuất hiện trên màn hình tại thời điểm trước khi xảy ra tai nạn."
Bị cáo Vũ Xuân N trong quá trình điều tra, truy tố đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Xuân N đã thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của mình, thừa nhận việc bị khởi tố, điều tra là đúng pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số: 10/CT-VKSNBH-KV ngày 15 tháng 5 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo Vũ Xuân N về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Vũ Xuân N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Xuân N từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Yên Mạc, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Xuân N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi nêu trên và không có ý kiến gì khác, không tranh luận với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, dấu vết để lại trên hiện trường và phương tiện liên quan đến tai nạn, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 18 giờ 15 phút ngày 27/11/2025, Vũ Xuân N là người có Giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Hưng Yên cấp ngày 26/10/2016, có giá trị không thời hạn đã điều khiển xe mô tô BKS 35K1-257.77 đi trên đường quốc lộ 12B từ khu vực chợ Bút, xã Yên Mạc về xóm 2 Hồng Thắng, xã Yên Mạc, tỉnh Ninh Bình, khi đi đến Km24+950 quốc lộ 12B thuộc xóm 1 Hồng Thắng, xã Yên Mạc, tỉnh Ninh Bình. Đây là đoạn đường hai bên không có đèn đường chiếu sáng, chỉ có đèn của các phương tiện di chuyển trên đường và ánh sáng đèn điện của nhà dân xung quanh và có nhiều phương tiện qua lại. Cách chị H khoảng 13,8m bị cáo phát hiện chị H đi bộ sang đường nhưng do không làm chủ được tốc độ, không giảm tốc độ đến mức an toàn hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn cho chị H đang sang đường nên má lốp phải bánh xe trước xe mô tô bị cáo điều khiển va chạm với chị H làm chị H bị ngã ra đường. Hậu quả, chị H bị chấn thương sọ não đến ngày 30/11/2025 thì tử vong; cáo bị tổn thương cơ thể là 41%, xe mô tô bị cáo điều khiển bị hư hỏng. Tại Khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định:
“…2. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải bảo đảm tốc độ phù hợp điều kiện của cầu, đường, mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để bảo đảm an toàn.
3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau đây:
a) Tại nơi có vạch kẻ đường hoặc báo hiệu khác dành cho người đi bộ hoặc tại nơi mà người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường...”
Hành vi của bị cáo Vũ Xuân N điều khiển xe mô tô không đảm bảo tốc độ phù hợp trong điều kiện trời tối, trên đường có nhiều phương tiện tham gia giao thông; không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn khi có người đi bộ qua đường đã vi phạm khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024, gây thiệt hại đến tính mạng và tài sản của người khác. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự thì:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
…”
Bị cáo Vũ Xuân N là người có năng lực trách nhiệm hình sự, vi phạm quy định về an toàn khi tham gia giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn về giao thông đường bộ, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình truy tố bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Vũ Xuân N thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại nên đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Mặt khác, trong vụ án này, nguyên nhân xảy ra tai nạn cũng có một phần lỗi của người bị hại do sang đường không chú ý quan sát các xe đang đi tới, không bảo đảm an toàn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
. Về hình phạt: Từ sự phân tích trên xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng có thể cải tạo tại địa phương mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước Việt Nam.
. Về các vấn đề khác:
. Về trách nhiệm dân sự: sau tai nạn gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền là 270.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận và không đề nghị giải quyết việc bồi thường, xét đây là sự tự nguyện nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Đối với chi phí để khắc phục, sửa chữa chiếc xe mô tô biển kiểm soát 35K1- 257.77 là: 2.370.000 đồng anh Vũ Xuân Ph không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Đối với tổn thương 41% (bốn mươi mốt phần trăm) cơ thể của bị cáo Vũ Xuân N, bị cáo không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
. Về xử lý phương tiện thu giữ: Đối với chiếc xe mô tô BKS: 35K1-257.77 và chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu, màu đỏ, trên mũ ghi chữ “Head Thanh Lịch” là tài sản hợp pháp của anh Vũ Xuân Ph, quá trình điều tra xác định là tài sản của Vũ Xuân Ph, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô BKS: 35K1-257.77 và chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu, màu đỏ, trên mũ ghi chữ “Head Thanh Lịch” cho anh Vũ Xuân Ph.
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Ninh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Vũ Xuân N bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Vũ Xuân N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Xuân N 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Vũ Xuân N cho Ủy ban nhân dân xã Yên Mạc, tỉnh Ninh Bình là nơi bị cáo thường trú, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật Thi hành án Hình sự.
2. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Xuân N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hánh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình; - Công an tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 2 – Ninh Bình; - Cơ quan THA hình sự CA tỉnh Ninh Bình; - Phòng THA dân sự khu vực 2 - Ninh Bình; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu: HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đào Thị Huệ |